vanban.org

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị C và anh S"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Toà án nhân dân
huyện khoái châu
tỉnh Hưng Yên
---***---
Bản án số: 26/2018/HNGĐ-ST
Ngày 27/04/2018
“ V/v:Ly hôn giữa chị C và anh S”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-------------------------------------

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thế Phương

Các hội thẩm nhân dân:

1/ -ông Trần Xuân Hoà.

2/ - ông Nguyễn Đức Tuân.

thư ký phiên toà: - bà Nguyễn Thị Loan - Cán bộ Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: ông Nguyễn Hữu Tuấn Anh – Kiểm sát viên.

hôm nay ngày 27/04/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Khoái Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thô lý số: 37/2018/HNGĐ - ST Ngày 28/02/2018 về việc "Xin ly hôn" giữa:

*- Nguyên đơn: chị Đào Thị C - Sinh năm 1989.

+ Sinh, trú quán và HKTT tại: Thôn B xã M huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. ( Có mặt tại phiên toà).

*- Bị đơn: anh Phạm Văn S - Sinh năm 1984.

+ Sinh, trú quán và HKTT tại: Thôn T xã M huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. (Có mặt tại phiên toà).

*- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Cháu Phạm Thị Khánh H - Sinh ngày 06/10/2011.

+ Sinh , trú quán và HKTT tại: Thôn T xã M huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên . (Vắng mặt tại phiên toà).

+ Người giám hộ cho cháu H là anh Phạm Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết xét xử vụ án, nguyên đơn chị Đào Thị C trình bày:

Về hôn nhân: Chị chung sống và kết hôn với anh Phạm Văn S có đăng ký kết hôn tại UBND xã M vào năm 2010. Hai anh chị chung sống với nhau hoà thuận hạnh phúc bình thường được một thời gian thì nẩy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 12 năm 2017 đến nay hai anh chị sống ly thân nhau mỗi người ở một nơi, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xin được ly hôn với anh S vì không có hạnh phúc.

Về con chung: Chị và anh S có một con chung là cháu Phạm Thị Khánh H (Sinh ngày 06/10/2011) hiện đang ở với anh S. Quan điểm của chị là xin được nuôi cháu H, mà không yêu cầu việc đóng góp phí tổn nuôi con.

Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết phân chia.

Tại biên bản ghi lêi khai và trong quá trình giải quyết xét xử vụ án, bị đơn anh Phạm Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Anh cũng khai nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Đào Thị C trình bày trên đây. Anh xin đoàn tụ vợ chồng để nuôi dạy con chung.

Về con chung: Anh và chị C có một con chung là cháu Phạm Thị Khánh H. Nếu ly hôn thì anh xin được tiếp tục nuôi cháu H, mà không yêu cầu việc đóng góp phí tổn nuôi con.

Về chia tài sản: Anh không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết phân chia.

Tại phiên toà hôm nay:

Nguyên đơn chị Đào Thị C và Bị đơn anh Phạm Văn S vẫn giữ nguyên ý kiến và quan điểm trên đây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà đã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự: Nguyên và bị đơn đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng trong vụ án. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thưêng vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án. Đề nghị xử cho chị Đào Thị C được ly hôn với anh Phạm Văn S; Giao con chung (cháu Phạm Thị Khánh H - Sinh ngày 06/10/2011) cho anh Phạm Văn S tiếp tôc nuôi dưìng chăm sóc. Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, chị Đào Thị C được quyền thăm nom cháu H; Tài sản chung, công nợ chung và đất ruộng nông nghiệp 03 của anh Phạm Văn S và chị Đào Thị C thì không đặt ra giải quyết trong vụ án ly hôn này; Nguyên đơn chị Đào Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Việc anh Phạm Văn S và chị Đào Thị C kết hôn có đăng ký là hợp pháp đã xác lập quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh chị đã nẩy sinh mâu thuẫn, sống ly thân không quan tâm chăm sóc nhau, cuộc sống hạnh phúc gia đình đang ở tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần xử cho chị Đào Thị C được ly hôn với anh Phạm Văn S để hai anh chị sớm ổn định tạo lập hạnh phúc gia đình mới.

Về con chung: Chị Đào Thị C và anh Phạm Văn S có một con chung là cháu Phạm Thị Khánh H (Sinh ngày 06/10/2011) hiện đang ở với anh S. Quan điểm xin được nuôi con chung của cả hai anh chị đều là chính đáng nhưng hiện cháu H đó và vẫn đang ở với anh S, cuộc sống ổn định và đảm bảo. Nên cần giao cháu H cho anh S tiếp tôc nuôi. Do anh Phạm Văn S không yêu cầu nên việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, chị Đào Thị C được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản: Do chị Đào Thị C và anh Phạm Văn S đều không yêu cầu phân chia nên Tòa án không đặt ra xem xét trong vụ án ly hôn này. Khi nào anh, chị có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Đào Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Cần đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đào Thị C đó nộp tại cơ quan Chi côc thi hành án dân sự huyện Khoái Châu.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYÊT ĐỊNH

* - Áp dụng: - Các điều 51, 56, 57,58, 81, 82,83 và 84 của Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014; Khoản 2 điều 144, Khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Tòa án.

*- Xử :

1. - Về hôn nhân: Cho chị Đào Thị C được ly hôn với anh Phạm Văn S.

2. - Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Khánh H (Sinh ngày 06/10/2011) cho anh Phạm Văn S tiếp tôc nuôi. Việc đóng góp phí tổn nuôi con không đặt ra. Sau khi ly hôn, chị Đào Thị C được quyền thăm nom, chăm sóc và được quyền xin thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. - Về chia tài sản: Không đặt ra xem xét. Khi nào anh Phạm Văn S, chị Đào Thị C có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết ở vụ án dân sự khác.

4. - Về án phí: Chị Đào Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm ( Đối trừ vào số tiền 300.000 đồng dự phí chị Đào Thị C đã nộp theo biên lai thu số 0002205 ngày 28/2/2018 tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khoái Châu nên việc nộp án phí đó xong).

5.- Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị C và anh Phạm Văn S đều được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/04/2018. /

T/M: Hội đồng xét xử

Chủ toạ phiên toà

- Nơi nhận: + TAND&VKSND tỉnh Hưng Yên + VKSND huyện Khoái Châu. + THADS huyện Khoái Châu. + UBND xã M. + Các đương sự. + Lưu Hồ sơ, VP.

Cỡ chữ