- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ anh Nguyễn Thế V và chị Phan Thị Phương Th"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thế V và chị Phan Thị Phương Th.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2018/HNGĐ-ST Ngày: 11-5-2018 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hạnh.
2.Ông Bùi Huy Xuân.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 360/2017/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Tổ 04, thôn XH, xã SB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Bị đơn: Chị Phan Thị Phương Th, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Tổ 04, ấp GHY, xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
(Anh V, chị Th vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Nguyễn Thế V trình bày:
Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm thì anh V và chị Th mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 01 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ra sống riêng trên nhà đất của cha mẹ anh V cho. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng tính tình không hợp nên thường xuyên cãi vã, giữa vợ chồng không có tình thương, không có sự tôn trọng lẫn nhau. Hơn nữa vợ chồng cũng không có con chung nên giữa vợ chổng không có sự gắn kết tình cảm. Từ tháng 6-2017 thì chị Th về nhà cha mẹ ruột ở xã BG để sinh sống cho đến nay. Nay, anh V yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Anh V xin được ly hôn với chị Th.
Về nuôi con chung: Anh V và chị Th không có con chung.
Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Phan Thị Phương Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về nuôi con chung: Không có.
Về chia tài sản chung: Anh V không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Anh V và chị Th sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay anh V yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của chị Th là xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh V vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh V và chị Th trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 01 năm 2015 tại UBND xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng tính tình không hợp nên thường xuyên cãi vã nhau, giữa vợ chồng không có sự chia sẽ trong cuộc sống. Từ tháng 6-2017 thì vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân thì vợ chồng cũng không tìm cách hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của anh V, Tòa án đã tiến hành triệu tập chị Th để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng chị Th vẫn không đến chứng tỏ chị Th không có thiện chí đoàn tụ. Tòa án cũng đã xác minh về tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị Th tại địa phương nơi chị Th cư trú; Kết quả xác minh cho thấy mâu thuẫn giữa anh V và chị Th là có thật. Hiện chị Th sống cùng gia đình tại địa chỉ tổ 04, ấp GHY, xã BG, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị Th ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh V được ly hôn với chị Th.
Về nuôi con chung: Anh V và chị Th không có con chung.
Về chia tài sản chung: Anh Vkhông yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thế V và chị Phan Thị Phương Th.
2.Về nuôi con chung: Không có.
3.Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4.Về án phí: Anh Nguyễn Thế V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà anh V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2016/0009034 ngày 31 tháng 10 năm 2017; Anh Nguyễn Thế Vh đã nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11-5-2018), đối với anh Nguyễn Thế V và chị Phan Thị Phương Th vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh BR-VT; -VKSND H.Châu Đức; -Chi cục THA Dân sự H.Châu Đức; -UBND xã Bình Giã; -Các đương sự; -Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đòa Trọng Hải |