- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Bản án số: 26/2018/DSST"
- Căn cứ chính? Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HuyÖn T©n HiÖp tØnh kiªn giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/DSST Ngày 12 th¸ng 7 n¨m 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tßa ÁN NHÂN DÂN HUYÖN T©N HIÖP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Đình Đoài
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ ¤ng: Nguyễn Ngọc Chúc
2/ Ông: Vũ Quang Hƣng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ¤ng Lê Quang Nhật – Thƣ Ký Tòa án nh©n d©n huyÖn T©n HiÖp, tØnh Kiªn Giang
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2018, tại trô së Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn T©n HiÖp, tØnh Kiªn Giang ® a ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2018/TLST-DS, ngày 04 tháng 6 năm 2018, về viÖc “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXXST – DS, ngày 20 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1971 (cã mÆt).
§Þa chØ: số 104/32 N B K, phường V Q, thành phố R G, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Chị Vũ Thị Thủy T, sinh năm 1979 (vắng mặt không lý do)
Địa chỉ: ấp T Q, xã T H A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Nguyên vào ngày 20/10/2017 chị Vũ Thị Thủy T có mua 01 căn nhà ở và đất ở của tôi, chiều ngang 6,25 mét, chiều dài 37 mét, tọa lạc tại ấp T Q, xã T H A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang, với giá là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng). Chị T đã trả cho tôi 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng), còn nợ lại tôi 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) thì chị T hẹn đến ngày 20/12/2017 chị T sẽ trả hết 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho tôi. Hiện nay tôi đã giao nhà cho chị T nhưng chị T không trả 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) còn lại cho tôi mặc dù tôi có đến nhà chị T đòi nhiều lần nhưng chị T vẫn không trả 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho tôi.
Nay tại phiên tòa tôi yêu cầu giải quyết buộc chị Vũ Thị Thủy T trả lại cho tôi số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Bị đơn chị Vũ Thị Thủy T trình bày: theo bản tự khai ngày 20/6/2018 của chị Vũ Thị Thủy T thì chị T thừa nhận còn nợ tiền mua nhà ở và đất ở của chị Nguyễn Thị D số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), bởi vì vào ngày 20/10/2017, chị T có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở với chị nguyễn Thị D là căn nhà xây, mái lợp tôn, căn nhà có chiều ngang là 6,25 mét, chiều dài 37 mét, tổng công diên tích là 231,25 m2, với giá là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng), phần đất tọa lạc tại ấp T Q, xã T H A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình làm hợp đồng chuyển nhượng nhà ở và đất ở thì chị T có trả trước cho chị Nguyễn Thị D số tiền là 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng), còn nợ lại chị D 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), chị T hẹn chị D đến ngày 20/12/2017 chị T sẽ trả hết 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) còn lại nhưng do làm ăn thất bại, hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn nên đến nay chị T chưa trả 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho chị D được.
Nay chị T thừa nhận còn nợ chị Nguyễn Thị D tiền mua nhà ở và đất ở là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), chị T xin trả nợ dần cho chị D, mỗi tháng chị T trả cho chị D là 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào ngày 20 tháng 7 hàng tháng. Thời gian trả nợ từ ngày 20/7/2018 đến ngày 20/7/2019 là hết nợ. Trả nợ lần đầu tiên vào ngày 20/7/2018 chị T trả cho chị D 5.000.0000đ (năm triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tßa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Đây là vụ kiện tranh chấp đòi lại tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS năm 2015. Mặt khác đây là vụ kiện dân sự không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: chị Vũ Thị Thủy T với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay chị T vắng mặt không lý do, trước đó Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn chị Vũ Thị Thủy T, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt thì Tòa án tiến hành xử vắng mặt họ”. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Vũ Thị Thủy T là phù hợp theo quy định pháp luật.
Quan hệ pháp luật tranh chấp xảy ra giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị D với bị đơn chị Vũ Thị Thủy T là quan hệ “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 166 Bộ luật dân sự quy định:
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.
Xét yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D yêu cầu chị Vũ Thị Thủy T trả lại cho chị D số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì nguyên vào ngày 20/10/2017 chị Vũ Thị Thủy T có mua 01 căn nhà ở và đất ở của chị Nguyễn Thị D, chiều ngang 6,25 mét, chiều dài 37 mét, tọa lạc tại ấp T Q, xã T H A, huyện T H, tỉnh Kiên Giang, với giá là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng). Chị T đã trả cho chị D 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng), còn nợ lại chị D 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), do làm ăn thất bại hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn nên chị T không thể trả 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho chị D.
Sau khi thụ lý vụ kiện, ngày 20 tháng 6 năm 2018, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau nhưng không mang lại kết quả, phía chị D yêu cầu chị T trả lại cho chị D số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), còn chị T cũng đồng ý trả lại cho chị D số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) nhưng chị T xin trả nợ dần cho chị D, mỗi tháng chị T trả cho chị D là 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào ngày 20 tháng 7 hàng tháng. Thời gian trả nợ từ ngày 20/7/2018 đến ngày 20/7/2019 là hết nợ. Trả nợ lần đầu tiên vào ngày 20/7/2018 chị T trả cho chị D 5.000.0000đ (năm triệu đồng) nhưng chị D không đồng ý việc xin trả nợ dần của chị T.
Qua xem xét các chứng cứ trong vụ kiện này cho thấy chị T đang chiếm hữu số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) của chị D là không có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị D yêu cầu chị T trả lại 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho chị D là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu của bị đơn chị Vũ Thị Thủy T yêu cầu xin được trả nợ dần cho chị D, mỗi tháng chị T trả cho chị D là 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào ngày 20 tháng 7 hàng tháng. Thời gian trả nợ từ ngày 20/7/2018 đến ngày 20/7/2019 là hết nợ. Trả nợ lần đầu tiên vào ngày 20/7/2018 chị T trả cho chị D 5.000.0000đ (năm triệu đồng) là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì lời yêu cầu của chị T xin trả nợ dần cho chị D mỗi tháng trả 5.000.000đ (năm triệu đồng) thì chị D không đồng ý yêu cầu của chị T. Theo quy định tại mục 1 phần III Thông tư liên tịch số: 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp – Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định: Tòa án không ấn định trong bản án, quyết định thời điểm hoặc thời hạn bên có nghĩa vụ thi hành án. Do đó Hội đồng xét xử không có xem xét.
Chính vì vậy bác yêu cầu của chị Vũ Thị Thủy T.
Veà aùn phí DSST: Aùp duïng ñieàu 147 Boä luaät toá tuïng daân söï; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Yeâu caàu cuûa chị Nguyễn Thị D ñöôïc chaáp nhaän neân chị D khoâng phaûi chòu aùn phí, traû laïi tieàn taïm öùng aùn phí cho chị D soá tieàn laø 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo bieân lai thu soá 0005064 ngaøy 01/06/2018 cuûa Chi cuïc Thi haønh aùn daân söï huyeän Taân Hieäp, tỉnh Kiên Giang.
Buộc chị Vũ Thị Thủy T phaûi noäp: 50.000.000đ x 5% = 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 Boä luaät toá tuïng daân sự năm 2015ï; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ ChÊp nhËn yªu cÇu khëi kiÖn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D.
2/ Bác yêu cầu của bị đơn chị Vũ Thị Thủy T.
3/ Buộc chị Vũ Thị Thủy T traû lại cho chị Nguyễn Thị D số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu Thi hành án nếu chị Vũ Thị Thủy T không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
4/ VÒ ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm:
- Buộc chị Vũ Thị Thủy T noäp 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Nguyễn Thị D soá tieàn laø 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo bieân lai thu soá 0005064 ngaøy 01/06/2018 cuûa Chi cuïc Thi haønh aùn daân söï huyeän Taân Hieäp, tỉnh Kiên Giang.
Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6, §iÒu 7 vµ §iÒu 9 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
Baùo cho chị Nguyễn Thị D bieát coù quyeàn khaùng caùo trong haïn luaät ñònh laø 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn sơ thẩm.
Báo cho chị Vũ Thị Thủy T biết coù quyeàn khaùng caùo trong haïn luaät ñònh laø 15 ngaøy keå töø ngaøy nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Nôi nhaän:
| - VKSND huyeän Taân Hieäp. - TAND tænh Kieân Giang . - Chi cục THADS huyện Tân Hiệp. - Caùc ñöông söï. - Löu HS. - Löu VP. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SƠ THẨM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa (Đã ký) Nông Đinh Đoà ̀i |