vanban.org

Bản án 26/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 16/11/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vũ Quyết T: Buộc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền gốc đã vay là 420.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại điều 357 Bộ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ kiện dán sự giữa NĐ ông Vũ Quyết T và BĐ ông Lê Văn S, bà Phan Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vũ Quyết T: Buộc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền gốc đã vay là 420.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/DS-ST
Ngày 16/11/2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lục Văn Vãn;

2. Ông Hoàng Văn Phiên

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16/11/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2018/TLST- DS ngày 04 tháng 7 năm 2018 về việc kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/QĐXXST- DS ngày 15 tháng 10 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2018/QĐST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Vũ Quyết T

Địa chỉ: Số nhà 054, đường H, phường Ph, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Có mặt”

2. Bị đơn: Ông Lê Văn S, bà Phan Thị H

Cùng địa chỉ: Số nhà 147, đường T, tổ 17, phường Ph, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Vũ Quyết T trình bày:

Do quen biết trong mối quan hệ hàng xóm nên ngày 18/02/2017 ông Vũ Quyết T có cho ông Lê Văn S cùng vợ là bà Phan Thị H vay số tiền 420.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi triệu đồng) mục đích để kinh doanh nhôm kính, lãi suất theo thỏa thuận. Khi vay ông Lê Văn S, bà Phan Thị H có viết giấy vay tiền và hẹn ngày 28/3/2018 sẽ thanh toán cả gốc và lãi. Đến cuối năm 2017 ông S, bà H bỏ trốn khỏi địa phương, đi đâu ông T không biết. Tính đến ngày 28/9/2018 số tiền ông bà S, H nợ ông Vũ Quyết T là 420.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi từ ngày từ ngày 28/2/2017 đến ngày 28/9/2018 là 19 tháng x 420.000.000 đồng x 1,66%/tháng = 132.513.000 đồng. Tổng cộng ông S bà H nợ ông Vũ Quyết T số tiền cả gốc và lãi là 552.468.000 đồng. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết buộc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông T số tiền cả gốc và lãi là 552.468.000 đồng

Bị đơn ông Lê Văn S, bà Phan Thị H: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt, niêm yết đầy đủ các giấy tờ tố tụng của Toà án cho ông Lê Văn S, bà Phan Thị H biết nhưng ông Lê Văn S, bà Phan Thị H không có văn bản trả lời và cũng không đến toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền gốc 420.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 28/10/2018 còn nợ là 20 tháng x 420.000.000 đồng x 1,66%/tháng = 139.440.000 đồng

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng vào các; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 1 điều 147, điều 161, điểm b khoản 2 điều 227, điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, điểm b khoản 5 điều 466, điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quyết T buộc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền gốc đã vay là 420.000.000 đồng và số tiền lãi theo quy định của pháp luật. Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Ông Vũ Quyết T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Lê Văn S, bà Phan Thị H vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng các Điều điều 463, điểm b khoản 5 điều 466, điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết về nội dung khởi kiện. Tại phiên tòa ông Lê Văn S, bà Phan Thị H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Lê Văn S, bà Phan Thị H theo quy định tại Điểm b khoản 2 điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về yêu cầu khởi kiện:

Xét hợp đồng vay tài sản: Trong giấy vay tiền mặt ngày 18/2/2018 thể hiện ông Vũ Quyết T cho ông Lê Văn S, bà Phan Thị H vay số tiền 420.000.000 đồng, khi vay ông Lê Văn S, bà Phan Thị H có viết giấy vay tiền ký ghi rõ họ tên và hẹn ngày 28/3/2017 sẽ thanh toán cho ông Vũ Quyết T. Tại bản kết luận giám định số 31/GĐTL ngày 26/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Văn S dưới mục “NGƯỜI VAY TIỀN (ký ghi rõ họ tên)” trên “Giấy vay tiền” ghi ngày 18/2/2017 - tài liệu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết mang tên Lê Văn S trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 là do cùng một người ký và viết ra; Chữ ký, chữ viết mang tên Phan Thị H dưới mục “NGƯỜI VAY TIỀN (ký ghi rõ họ tên)” trên “Giấy vay tiền” ghi ngày 18/2/2017 - tài liệu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết mang tên Phan Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M9 là do cùng một người ký và viết ra. Như vậy chấp nhận việc ngày 18/02/2018 ông Vũ Quyết T có cho ông Lê Văn S, bà Phan Thị H vay số tiền 420.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Ông Vũ Quyết T cho rằng ông Lê Văn S, bà Phan Thị H sau khi vay không trả cho ông T khoản tiền gốc, tiền lãi nào. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Lê Văn S, bà Phan Thị H không đến Tòa án để trình bày ý kiến cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án vì vậy chấp nhận việc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H chưa trả cho ông Vũ Quyết T khoản tiền gốc, tiền lãi nào.

Về lãi suất: Trong giấy vay tiền có ghi “Lãi xuất thỏa thuận......%...”, ông T cho rằng lãi suất theo thỏa thuận. Như vậy trong giấy vay tiền không ghi cụ thể mức lãi xuất cho vay, ông S, bà H không đến Tòa án nên không xác định được lãi xuất cho vay là bao nhiêu %. Ông T khởi kiện yêu cầu tính lãi suất cho vay là 1,66%/tháng. Xét về lãi suất đây là hợp đồng vay có lãi suất nhưng không xác định được rõ lãi suất và có tranh chấp vì vậy mức lãi suất trong hạn được tính 420.000.000 đồng x 10%/năm x 39 ngày = 4.500.000 đồng; Lãi suất nợ quá hạn tính tính từ ngày 29/3/2017 đến ngày 29/10/2018 là 420.000.000 đồng x 15%/năm x 19 tháng = 99.750.000 đồng. Như vậy tổng số tiền lãi là 104.250.000 đồng

Như vậy xét về yêu cầu khởi kiện thì việc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Quyết T, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quyết T đối với ông Lê Văn S, bà Phan Thị H

Về án phí: Ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định

Về chi phí giám định: Ông Vũ Quyết T nhận chịu tiền chi phí giám định

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, điểm b khoản 5 điều 466, điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm b khoản 2 điều 227, điều 228, khoản 1 điều 147, điều 161 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vũ Quyết T: Buộc ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền gốc đã vay là 420.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi triệu đồng) và số tiền lãi là 104.250.000 đồng (Một trăm linh bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cộng ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền cả gốc và lãi là 524.250.000 đồng (Năm trăm hai mươi bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Cụ thể: Ông Lê Văn S, bà Phan Thị H mỗi người phải trả cho ông Vũ Quyết T số tiền 262.125.000 đồng (Hai trăm sáu mươi hai triệu một trăm hai mươi năm nghìn đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự

2. Về án phí: Ông Lê Văn S, bà Phan Thị H phải chịu 24.970.000 đồng (Hai bốn triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể ông Lê Văn S, bà Phan Thị H mỗi người phải chịu 12.485.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm tám mươi năm nghìn đồng)

Ông Vũ Quyết T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.631.040 đồng (Mười hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn không trăm bốn mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AB/2012/0005272 ngày 04/7/2018 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

3. Về chi phí giám định: Ông Vũ Quyết T nhận chịu 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) tiền chi phí giám định. Xác nhận ông Vũ Quyết T đã nộp đủ

Ông Vũ Quyết T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ông Lê Văn S, bà Phan Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ