vanban.org

Bản án 26/2017/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng áp dụng các Điều về thẩm quyền giải quyết của Tòa án; điểm c khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19 Điều 51, Điều 56, Điều 121, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UB…

1/ Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thúy P. Xử cho bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1977 được ly hôn với ông Pengly M, sinh năm 1974. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng áp dụng các Điều về thẩm quyền giải quyết của Tòa án; điểm c khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19 Điều 51, Điều 56, Điều 121, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UB…
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 20-9-2017
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Điền

Bà Liêu Bích Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 29/2016/TLST–HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2016, về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (có mặt)

- Bị đơn: Ông Pengly M, sinh năm 1974. Địa chỉ: Hoa Kỳ. (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 11 năm 2016 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thúy P trình bày: Bà và ông Pengly M tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29 tháng 7 năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ bà ở huyện H, tỉnh Bạc Liêu khoảng 01 tháng thì ông Pengly M về Mỹ sinh sống. Ông Pengly M có về Việt Nam thăm bà và làm thủ tục bảo lãnh bà để đoạn tụ nhưng do trong quá trình chung sống bà và ông Pengly M phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan niệm sống nên bà không đồng ý sang Mỹ để đoàn tụ cùng ông Pengly M. Từ tháng 9 năm 2016 đến nay, bà và ông Pengly M không còn liên lạc với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Pengly M. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Pengly M, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật đối với ông Pengly M. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được văn bản trả lời của ông Pengly M về những vấn đề có liên quan đến quan hệ hôn nhân giữa ông với bà Trần Thị Thúy P và ông cũng không về Việt Nam tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận đơn yêu cầu được ly hôn của bà Trần Thị Thúy P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn ông Pengly M mang quốc tịch Hoa Kỳ hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hòa giải, triệu tập xét xử đối với ông Pengly M theo quy định của pháp luật, nhưng không nhận được ý kiến phản hồi của ông Pengly M và ông Pengly M cũng không về Việt Nam tham gia phiên hòa giải, phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó, căn cứ điểm c khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với ông Pengly M.

. Về hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thúy P và ông Pengly M có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29 tháng 7 năm 2016. Bà P xác định việc kết hôn với ông Pengly M là tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối. Nên có cơ sở để xác định hôn nhân giữa bà P và ông Pengly M là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ bà P ở huyện H, tỉnh Bạc Liêu khoảng 01 tháng thì ông Pengly M về Mỹ sinh sống. Ông Pengly M có về Việt Nam thăm bà và làm thủ tục bảo lãnh bà sang Mỹ để đoàn tụ nhưng trong quá trình chung sống thì bà và ông Pengly M phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan niệm sống nên bà không đồng ý sang Mỹ để đoàn tụ cùng ông Pengly M. Từ tháng 9 năm 2016 đến nay, bà và ông Pengly M không còn liên lạc với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Pengly M. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”, nhưng hôn nhân của bà P và ông Pengly M không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện nay bà P và ông Pengly M mỗi người ở một nơi không còn liên lạc được với nhau trong thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên có căn cứ để chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thúy P yêu cầu ly hôn với ông Pengly M.

. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thúy P xác định, trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình và lệ phí thực hiện ủy thác tư pháp bà Trần Thị Thúy P phải nộp toàn bộ theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thúy P được ly hôn với ông Pengly M, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng áp dụng các Điều về thẩm quyền giải quyết của Tòa án; điểm c khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19 Điều 51, Điều 56, Điều 121, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử

1/ Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thúy P.

+ Xử cho bà Trần Thị Thúy P, sinh năm 1977 được ly hôn với ông Pengly M, sinh năm 1974.

+ Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp:

+ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị Thúy P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), bà Trần Thị Thúy P đã nộp tạm ứng án phí số tiền 200.000đ theo biên lai thu 0006164 ngày 21/11/2016 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, được chuyển thu án phí.

+ Lệ phí ủy thác tư pháp bà Trần Thị Thúy P phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và 95 đô Mỹ, bà Trần Thị Thúy P đã nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và 95 đô Mỹ theo các biên lai thu số 0000692 ngày 26/6/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu và phiếu chuyển tiền số 0899071017000005 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương việt Nam chi nhánh tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu lệ phí.

[3] Án xử sơ thẩm công khai, bà Trần Thị Thúy P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; ông Pengly M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ