- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 259/2023/HS-ST Ngày: 27-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản;
Bà Phạm Thị Loan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 253/2023/TLST-HS ngày 13-10-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2023/QĐXXST-HS ngày 16-10-2023, đối với bị cáo:
Họ tên: Trần Ngọc T - sinh ngày 27-9-1974 tại: tỉnh Nam Định; nơi đăng ký và nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 8/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân D và bà Trần Thị V; có vợ Nguyễn Hồng L (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24-11-1998 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa", 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản công dân" và 12 tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", tổng hợp hình phạt Trần Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 03 tội là 48 tháng. Ngày 28-9-2001 Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 30-12-2002 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm phạt 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 11-5-2016 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm tuyên miễn trách nhiệm hình sự về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-8-2023, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 01-9-2023 cho đến nay Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Vũ Công P, ông Nguyễn Bá T1 (không triệu tập tới phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 23-8-2023, tổ công tác Công an phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 10/156 đường Lê Hồng Phong, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định phát hiện Trần Ngọc T đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 18Z7-91xx một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T đã tự giác giao nộp từ tay trái 01 gói nhỏ bằng giấy màu xanh tím than, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai đó là gói Heroine vừa mua để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa T và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định để lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 18Z7-91xx và 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia (đều đã cũ).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 1307/KL-KTHS ngày 28-8-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu xanh tím than thu giữ của Trần Ngọc T được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có khối lượng 0,195 gam (không phẩy một chín năm gam).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Ngọc T khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, đồng thời khai nhận về nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 23-8-2023, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18Z7-91xx từ nhà đến khu vực ngõ 156 + 158 đường Lê Hồng Phong, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định. T đi vào một ngách trong ngõ (không nhớ số ngách) rồi dừng xe trước cửa một ngôi nhà (không nhớ số nhà) và hỏi mua qua lỗ cổng 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Bên trong có một người phụ nữ nhận tiền qua khe cổng và đưa lại cho T 01 gói Heroine (T không biết lai lịch, địa chỉ người bán ma túy cho T). Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng. Khi T đi đến khu vực trước cửa số nhà 10/156 đường Lê Hồng Phong, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định phối hợp với Công an phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định tiến hành xác minh người phụ nữ bán ma túy cho Trần Ngọc T ở khu vực ngõ 156 + 158 đường Lê Hồng Phong, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định. Kết quả xác minh không có đối tượng và ngôi nhà nào có đặc điểm, vị trí như T khai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 270/CT-VKSND-TPNĐ ngày 12-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Ngọc T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Ngọc T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Ngọc T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 23-8-2023, Trần Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,195 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực trước cửa số nhà 10/156 đường Lê Hồng Phong, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ là 0,195 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bố mẹ bị cáo được tặng huân, huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Ngọc T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Xét bị cáo Trần Ngọc T là đối tượng có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần được giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc để xử phạt bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Ngọc T tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án như sau:
Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1307/KL-KTHS đã thu giữ của bị cáo Trần Ngọc T là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Nokia được niêm phong trong túi niêm phong có số 1913310 là tài sản của bị cáo Trần Ngọc T, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo, song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Một số vấn đề khác:
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Trần Ngọc T tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát 18Z7-91xx (đã cũ) là tài sản của bà Trần Thị Kim O (chị gái của Trần Ngọc T), sinh năm 1960; nơi cư trú: Số 5/26 đường H, phường T, thành phố Đ, tỉnh Nam Định. Do bà Trần Thị Kim O không biết việc bị cáo Trần Ngọc T mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trả lại chiếc xe máy trên cho bà Trần Thị Kim O là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù). Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23-8-2023.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: số ma túy trong phong bì niêm phong số 1307/KL-KTHS.
Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc T 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Nokia được niêm phong trong túi niêm phong có số 1913310 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhân vật chứng ngày 20-10-2023).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
Bị cáo Trần Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Ngọc T được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Mai Thị Thu Hiền HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |