- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 259/2018/HSST Ngày 12-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chanh và bà Lò Thị Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 261/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Hà Văn T, sinh ngày 29/9/1988 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn P (Đã chết) và bà Hoàng Thị X; bị cáo có vợ là Hà Thị V (Đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 8 năm 2018 đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị A, sinh năm 1986, nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/4/2018, Hà Văn T mượn xe máy hiệu HONDA Dream không biển kiểm soát của chị Hà Thị A, trú tại bản P, xã L, huyện M để làm phương tiện đi lại. Khoảng 08 giờ ngày 09/8/2018, T điều khiển xe máy từ nhà ở bản Phát, xã Lóng Sập đến bản Hong Húa, xã Lóng Sập để xẻ gỗ. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ lên khu vực biên giới Việt – Lào thuộc địa phận bản Hong Húa, xã Lóng Sập tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực biên giới, T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, T đã hỏi và mua được của người đó 10 viên ma túy tổng hợp với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về được khoảng 100m thì dừng lại lấy 02 viên ma túy ra sử dụng. Còn lại 08 viên ma túy T gói lại rồi cất giấu trong túi quần rồi về chỗ xẻ gỗ, đến 16 giờ thì về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi bộ ra đường dân sinh thuộc bản Phát, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu lấy 02 viên ma túy ra sử dụng, còn lại 06 viên ma túy T cất giấu trong túi quần bên phải. Khoảng 22 giờ ngày 11/8/2018, T cầm 06 viên ma túy rồi điều khiển xe máy hiệu HONDA Dream không biển kiểm soát đi ra tiểu khu 19/5, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu. Khi đi đến KM 104, quốc lộ 43 thuộc địa phận tiểu khu 1/5, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập phát hiện bắt giữ. Tạm giữ của Hà Văn T 01 chiếc xe máy hiệu HONDA Dream không biển kiểm soát; 01 điện thoại di động hiệu PHILIP kèm theo 01 sim; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105 kèm theo 01 sim.
Ngày 12/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng 06 viên nén nghi là Methamphetamine thu giữ của Hà Văn T có khối lượng là 0,61 gam. Lấy 03 viên = 0,30 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu có ký hiệu T.
Tại kết luận giám định số 962 ngày 14/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,61 gam; loại Methamphetamine”.
Cáo trạng số 216/CT-VKSMC ngày 01/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Hà Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Trả cho chị Hà Thị A 01 chiếc xe máy hiệu HONDA Dream không biển kiểm soát;
Tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu PHILIP kèm theo 01 sim; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105 kèm theo 01 sim để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,31 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy của Hà Văn T.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 00 phút ngày 11/8/2018; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của những người chứng kiến.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 11/8/2018, Hà Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 06 viên Methamphetamine có khối lượng 0,61 gam, mục đích để sử dụng cho việc nghiện hút. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc xe máy hiệu HONDA Dream không biển kiểm soát. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị A, chị A mua lại chiếc xe máy với một người có tên là Nam ở khu vực tiểu khu 1/5, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu với giá 10.000.000 đồng. Quá trình sử dụng đã làm rơi mất đăng ký và biển kiểm soát xe, sau đó chị A cho Hà Văn T mượn, chị A không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy, do đó cần trả lại cho chị A quản lý, sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu PHILIP kèm theo 01 sim; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105 kèm theo 01 sim thu giữ của bị cáo, xét là tài sản hợp pháp của bị cáo, cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,31 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy của Hà Văn T, xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo ngày 09/8/2018 (như bị cáo khai). Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 12/8/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
Tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu PHILIP kèm theo 01 sim; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 105 kèm theo 01 sim để đảm bảo cho việc thi hành án về phần án phí.
Trả cho chị Hà Thị A 01 chiếc xe máy hiệu HONDA – Dream, màu xanh rêu, không có biển kiểm soát, sk: 009AY2800.., sm: HA08E 15299.., xe không gương chiếu hậu, yên rách, xe đã qua sử dụng cũ, không kiểm tra máy móc bên trong.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 03 viên = 0,31 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Test thử ma túy của Hà Văn T.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ, VP. ……………………………………… | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Hiến THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hiến |