- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Vân và đồng phạm pham tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị V (tên gọi khác V Anh), Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 259/2018/HSST Ngày 30-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hoan
Bà Nguyễn Thị Tươi
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 251/2018/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Vũ Thị V (tên gọi khác V A), sinh năm 1996; ĐKHKTT và trú tại: Thôn C, xã V, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Vũ Văn H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: không. Chồng, con: chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/9/2018, chuyÓn tạm giam ngày 20/9/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
2. Cao Văn H, sinh năm 1989; ĐKHKTT và trú tại: số A tổ dân phố G, phường D, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Cao Văn M (đã chết) và bà Thân Thị H, sinh năm 1970; Vợ, con: chưa có.
Tiền sự: không;
Tiền án: Bản án số 19/2014/HSST ngày 04/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ngày phạm tội 15/10/2013), hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/4/2016, nộp án phí và hình phạt bổ sung ngày 24/9/2018.
Nhân thân: Bản án số 67/2012/HSST ngày 13/4/2012 của Tòa án nhân dân TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng 18 ngày về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (trị giá tài sản 5.000.000 đồng). Nộp án phí ngày 06/6/2012, chấp hành xong hình phạt ngày 01/8/2013.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/9/2018, chuyÓn tạm giam ngày 20/9/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Anh Phạm Văn K, sinh năm 1980. Địa chỉ: thôn T, xã A, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1970. Địa chỉ: A phố T, phường Trần Phú, thành phố Hải Dương; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 15/9/2018, Cao Văn H đến thành phố Hải Dương chơi với V và biết V có ma túy tổng hợp. Khoảng 22 giờ ngày 17-9-2018 H rủ V về nhà H ở thành phố Bắc Giang đồng thời hỏi xin V một ít ma túy để cùng sử dụng, V đồng ý. Sau đó, V và H thuê anh Phạm Văn K điều kH xe taxi chở đến đầu ngõ 210 Điện Biên Phủ, phường Bình Hàn, TP Hải Dương, V bảo H ngồi đợi còn V đi vào trong ngõ. Tại đây, V gặp Đỗ Thị Thu H xin được 01 gói ma túy tổng hợp. V quay lại, lên xe taxi đưa cho H cầm. Khoảng 23h cùng ngày, khi anh Khải chở H, V đến trước cửa số nhà 198 Điện Biên Phủ, Phường Phạm Ngũ Lão, TP Hải Dương, H, V xuống xe thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP Hải Dương kiểm tra. H vứt gói ma túy xuống đất, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại vị trí dưới chân H đang đứng 01 gói nilon màu trắng, kích thước (2x4) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng trước sự chứng kiến của anh Phạm Văn Kvà anh Nguyễn Xuân H.
Tại Kết luận giám định số 549/KLGĐ-PC09 ngày 20 tháng 9 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận:
Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Cao Văn H và Vũ Thị V gửi đến giám định có khối lượng là 0,644 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 260/CT-VKSTPHD ngày 16-11-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố các bị cáo Vũ Thị V và Cao Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Vũ Thị V và Cao Văn H khai: Các bị cáo cất giấu trái phép ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đích gì khác. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, xác định VKSND thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Thị V và Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Vũ Thị V từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18-9-2018.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Cao Văn H từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18-9-2018.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,548 gam Mathamphetamine hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Cao Văn H và Vũ Thị V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Cao Văn H và Vũ Thị V không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, lời khai của bị cáo Cao Văn H và Vũ Thị V phù hợp với nhau, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 17/9/2018, tại trước cửa số nhà 198 Điện Biên Phủ, Phường Phạm Ngũ Lão, TP Hải Dương, Vũ Thị V và Cao Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,644 gam Methamphetamine để cùng sử dụng chung thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Vũ Thị V, Cao Văn H là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo Vũ Thị V, Cao Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội và bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Việc bị cáo V đã xin ma túy và cho H ma túy để H cất giấu tàng trữ trái phép số ma túy là 0,644 gam Methamphetamine trong người để cùng sử dụng chung với bị cáo Vũ Thị V là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố các bị cáo Vũ Thị V và Cao Văn H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo thực hiện. Trong vụ án này, sau khi bị cáo H hỏi xin ma túy thì V là người trực tiếp đi xin ma túy để cùng sử dụng nên HĐXX đánh giá vai trò của bị cáo V thực hành tích cực hơn bị cáo H.
Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo H là người có nhân thân xấu, bị cáo V là người chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo V không có tình tiết tăng nặng; đối với H: Bản án số 19/2014/HSST ngày 04/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt H 36 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cần thiết xử phạt mức hình phạt tù tương ứng với hành vi phạm tội của mỗi bị cáo nhằm tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,644gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật 0,548gam Methamphetamine. Xét thấy, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với Đỗ Thị Thu H cho Vũ Thị V 01 gói ma túy tổng hợp để sử dụng, theo các tài liệu xác minh hiện Hương vắng mặt tại nơi cư trú Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hải Dương tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Anh Phạm Văn K không biết V, H cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị V.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Văn H.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị V (tên gọi khác V Anh), Cao Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính:
Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị V (tên gọi khác V A) 17 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18-9-2018.
Xử phạt: Bị cáo Cao Văn H 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18-9-2018.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán kín số 549/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương;
(Hiện trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-11-2018 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Về án phí: Vũ Thị V và Cao Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Vũ Thị V, Cao Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND TP Hải Dương; - CQCSĐT-Công an TP Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh HD; - Chi cục THADS TP Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu |