- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đặng Hoài N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đặng Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI -------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2024/HSST Ngày: 31/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Bá Lý
Bà Tô Thị Lành
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 31/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 252/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/HSXXST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Đặng Hoài N; sinh ngày 12 tháng 7 năm 199x tại Gia Lai; Căn cước công dân số 064097008312; Trú tại: 21x Trần Xuân S, tổ 8, phường Ia Kg, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ điện nước; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Trần Tuyết N1, sinh năm 1999 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai từ ngày 16/8/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Văn T, sinh năm 199x (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 3, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đặng Hoài N sử dụng chất ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian tháng 5 năm 2024. Qua mối quan hệ xã hội, N có số điện thoại của đối tượng thanh niên tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 14 giờ ngày 16/8/2024, N đã gọi điện thoại cho K hỏi mua 200.000đ ma túy đá thì K đồng ý và hẹn N giao dịch tại khu vực bên hông bệnh viện Hùng V, hẻm 236 Lê D, tổ 03, phường Trà B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau đó, N đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đến điểm hẹn. Khi đến nơi, N đi theo hướng dẫn của K để đặt số tiền 200.000đ vào gốc cây ở khu vực đầu hẻm số 236 Lê D rồi lấy 01 gói nilon chứa ma túy cất vào túi áo khoác đang mặc trên người để khi cần thì lấy ra sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi N đang đi bộ trên đường Nguyễn Trung T, thành phố P thì gặp anh Lê Văn T là người quen nên N hỏi mượn xe mô tô 81H1-248.69 của anh T để đi công việc, anh T đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô đi đến trước số nhà 196 Sư vạn H, tổ 04, phường Ia K, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì bị lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Ma túy, Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang đối với Lê Đặng Hoài N; thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám bạc kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 50924 14164 58478) và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 81H1- 248.69, màu xám đen.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy vào ngày 16/8/2024, kết quả: Lê Đặng Hoài N dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 776/KL-KTHS ngày 25/8/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1774 gam”.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám bạc kèm sim số là của bị cáo N đã sử dụng liên lạc với đối tượng K để mua ma túy.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 81H1- 248.69, màu xám đen là tài sản của anh Lê Văn T: Vào tối ngày 16/8/2024, N mượn của anh T nói để đi công việc; anh T không biết N có tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản trả lại xe mô tô trên cho anh Lê Văn T.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Lê Đặng Hoài N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
*Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249 và điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Đặng Hoài N từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
*Về vật chứng của vụ án:
+ Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn niêm phong ghi “Số 776/PC09, ngày 25 tháng 8 năm 2024” có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy;
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám bạc kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 50924 14164 58478) đề nghị HĐXX tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Trước khi HĐXX nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình phạm tội, xin HĐXX xem xét, giảm hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm có cơ hội về bù đắp cho gia đình, vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại hồ sơ, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Lê Đặng Hoài N sử dụng chất ma túy khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2024. Vào khoảng 14 giờ ngày 16/8/2024, tại khu vực bên hông bệnh viện Hùng V, hẻm 236 Lê D, tổ 03, phường Trà B, thành phố P, tỉnh Gia Lai, N đã mua của đối tượng tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói nilon bên trong chứa ma túy (loại Methamphetamine) với giá 200.000đ. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang điều khiển xe mô tô biển số 81H1-248.69 đến trước số nhà 196 Sư Vạn H, tổ 04, phường Ia K, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì bị lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Ma túy, Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang; thu giữ vật chứng, gồm: 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 81H1- 248.69, màu xám đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám bạc kèm sim số.
Qua giám định, xác định: Chất màu trắng, dạng tinh thể trong gói nilon mà Lê Đặng Hoài N tàng trữ để sử dụng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1774 gam.
Hành vi của bị cáo Lê Đặng Hoài N mua, cất giữ 0,1774 gam chất ma túy loại Methamphetamine là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất ma túy, Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe của con người, làm suy thoái nòi giống dân tộc, băng hoại đạo đức và phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên Nhà nước có chính sách quản lý, kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng lao động, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được tác hại của tệ nạn ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh của bản thân, đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi mua, cất giấu chất ma túy để sử dụng. Do đó hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy và phải chịu sự chế tài của pháp luật hình sự, theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Để có một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đối với bị cáo, HĐXX nhận định: Bị cáo Lê Đặng Hoài N là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Để đấu tranh và phòng ngừa với các tội phạm về ma túy, xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đối với đối tượng tên K là người mà bị cáo N khai đã bán ma túy cho N: Do N không biết được nhân thân, lai lịch của K; Cơ quan Điều tra tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Đối với anh Lê Văn T cho bị cáo N mượn xe mô tô nhưng không biết N có tàng trữ trái phép chất ma túy trên người nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P không xử lý đối với T là có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo, không có tài sản riêng, hành vi phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp. Do đó HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
+ Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn niêm phong ghi “Số 776/PC09, ngày 25 tháng 8 năm 2024” có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai cần tịch thu tiêu hủy;
+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám bạc kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 50924 14164 58478) cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về tiền án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Đặng Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Đặng Hoài N - 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (16/8/2024).
-Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:
+ Tịch thu tiêu hủy:
Chất ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn niêm phong ghi “Số 776/PC09, ngày 25 tháng 8 năm 2024” có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Gia Lai.
+Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xám bạc kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 89840 50924 14164 58478)
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/12/2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai).
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Lê Đặng Hoài N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P; - Công an thành phố P; - Bị cáo; Người LQ; - Thi hành án dân sự thành phố P; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Tiến |