- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Đồng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo DVĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2022/HSST Ngày 06/9/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Lành.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Nhung, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 06/9/2022, tại Hội trường UBND phường PX, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 251/2022/HSST ngày 10/8/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2022/QĐXXST-HS ngày 22/8/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: DVĐ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/10/1985, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Tổ 13, phường PX, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền trước khi bị bắt): Không; Con ông: Dương Tiến M, sinh năm 1960; Con bà: Phú Thị H, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1987; Có 03 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: 01. Tại Bản án số 103/2020/HSST ngày 06/5/2020, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/4/2021; Tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2022)
(Có mặt tại phiên tòa).
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị NTN, sinh năm 1985.
Trú quán: Tổ 13, phường PX, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
Ngƣời chứng kiến: Ông NĐT, sinh năm 1978, trú tại Tổ 12, phường TL, thành phố Thái Nguyên. ( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 08 giờ 55 phút ngày 29/6/2022, tổ công tác Công an phường TL, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ 12, phường TL, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô BKS 20B2-210.79 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra người nam giới khai tên là DVĐ. Quá trình kiểm tra, Đ tự giác giao nộp cho tổ công tác từ lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (Đ khai nhận đó là ma túy Heroine của Đ mua để sử dụng). Kiểm tra trên người Đ và xe mô tô của Đ, tổ công tác không phát hiện gì thêm. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Đ và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, còn tạm giữ của Đ 01 xe mô tô BKS 20B2-210.79, màu sơn đỏ đen bạc, đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của DVĐ có khối lượng 0,145 gam, cho vào phong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định (BL: 16).
Tại Bản kết luận giám định số 1022/KL- KTHS ngày 08/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,145 gam (BL: 39).
Tại Cơ quan điều tra, DVĐ khai nhận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 29/6/2022, Đ điều khiển xe mô tô BKS 20B2-210.79 đi từ nhà ở tổ 13, phường PX, thành phố Thái Nguyên đến khu vực ngã ba TL, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, Đ gặp và mua được của 01 nam thanh niên không quen biết 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 Đ. Sau đó, Đ cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà thì bị tổ công tác Công an phường TL phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của DVĐ phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: - 02 bì niêm phong ký hiệu lần lượt A, K là mẫu vật hoàn lại sau giám định; - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, BKS: 20B2 – 210.79, số khung: RLHJA3911KY133546, số máy: JA39E0989992, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên: NTN (sinh năm 1987, trú tại: Tổ 13, phường PX, Thành phố Thái Nguyên). Quá trình điều tra, chị NTN (là vợ của DVĐ) khai chiếc xe trên do chị N tự mua bằng tiền cá nhân, ngày 29/6/2022, chị N cho Đ mượn xe để đi lại và bị tạm giữ, chị N đề nghị được nhận lại chiếc xe.
Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Bản cáo trạng số 253/CT-VKSNDTPTN ngày 05/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố DVĐ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội Đ xét xử tuyên bố: Bị cáo DVĐ phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề xuất xử phạt DVĐ mức án từ 18 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, người liên quan không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội Đ xét xử giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người liên quan, người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội Đ xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 55 phút ngày 29/6/2022, tại khu vực tổ 12, phường TL, thành phố Thái Nguyên, DVĐ có hành vi tàng trữ 0,145gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường TL, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đánh giá của Hội Đ xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,145 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật nhƣ sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”
Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 103/2020/HSST ngày 06/5/2020, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/4/2021. Do vậy lần phạm tội này vào ngày 29/6/2022 bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng tách nhiệm hình sự là "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1, Điều 53 Bộ luật hình sự.
Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù là phù hợp..
Vật chứng của vụ án: + Cần tịch thu tiêu hủy: - 02 bì niêm phong ký hiệu lần lượt A, K là mẫu vật hoàn lại sau giám định;
+ Hoàn trả cho chị NTN 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen bạc, BKS: 20B2 – 210.79, số khung: RLHJA3911KY133546, số máy: JA39E0989992, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên: NTN để quản lý và sử dụng.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, DVĐ khai mua của một nam thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực ngã ba TL thuộc phường TL, thành phố Thái Nguyên. Do không xác định được người bán ma tuý cho Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ, xử lý.
Đối vối chị NTN là người đưa xe cho Đ mượn để đi lại, còn việc Đ sử dụng vào mục đích phạm tội thì chị không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có căn cứ xử lý.
Về hình phạt bổ sung và án phí:
- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội Đ xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, công ăn việc làm không ổn định nên Hội Đ xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
1. Bị cáo DVĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: DVĐ 21 (hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong kí hiệu A bên trong chứa 0,135gam ma túy và vỏ bao gói mẫu giám định, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Minh T, Ngô Hoàng Đ và 02 dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.
- 01 bì niêm phong ký hiệu K bên trong chứa vở bì niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Hữu H, NĐT...và 03 dấu của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thái Nguyên.
- Hoàn trả chị NTN 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ, BKS: 20B2 – 210.79, số khung: RLHJA3911KY133546, số máy: JA39E-0989992, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3; Số loại Wave; Dung tích 109.
Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 282 ngày 09/8/2022.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo DVĐ phải nộp 200.000Đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND thành phố TN; - Công an thành phố TN; - Chi cục THADSTPTN; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo, NLQ. - Lưu HS; lưu BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Chinh |