vanban.org

Bản án 258/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Châu Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Châu Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CHÂU VĂN VƯƠNG - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
----------
Bản án số: 258/2022/HSST
Ngày: 29/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Bính

2/ Bà Trịnh Thị Tuyết

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Lê Nguyễn Tuyết Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 275/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2022/QĐXXST-HS ngày16 tháng 12 năm 2022, đối với:

Châu Văn V, Giới tính: Nam - Sinh ngày: 2000 tại B.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố 5, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: nhân viên khách sạn. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Châu văn T1, sinh năm: 1961 và con bà: Phan Thị L1, sinh năm: 1967. Cùng trú tại: Khu phố 5, phường Ph Hài, thành phố P, tỉnh B; Tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 16/6/2022, Châu Văn V sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Văn V” gọi qua ứng dụng Messenger cho 01 người tên Ph (không rõ nhân thân, không nhớ tên tài khoản mạng xã hội Facebook) hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá để sử dụng. Ph hẹn V đến ngã tư đường Nguyễn Thị Đ – Chi Lăng thuộc phường T, thành phố P lấy ma túy. V điều khiển xe mô tô biển số 86K3- 8580 đến điểm hẹn rồi gọi qua ứng dụng Messenger cho Ph. Một lát sau có 01 người thanh niên (không rõ nhân thân) đến giao cho V 01 tép ma túy đá, V đưa số tiền 150.000 đồng cho người này rồi xin lại 20.000 đồng để đổ xăng. V cầm tép ma túy vừa mua được trong tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến hẻm 277 đường Hải Thượng Lãn Ông thuộc khu phố 2, phường T, thành phố P thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố P phối hợp với Công an phường T kiểm tra, phát hiện trong tay phải của V có 01 gói nylon không màu, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy nên tổ tuần tra đã thu giữ những tang vật có liên quan và đưa V về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nylon không màu, kích thước (01x03) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M khi giám định).

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, thu giữ trong cốp xe của V.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, gắn sim số 0582058681.

- 01 xe mô tô biển số 86K3 - 8580.

Tại Bản kết luận giám định số 661/KL-KTHS ngày 27/6/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1367 gam, là Methamphetamine.

Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định: 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (01x03) cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0647 gam mẫu M còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH Số 661 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B.

Xử lý vật chứng:

Gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,0647 gam mẫu M còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P để bảo quản chờ xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Oppo có gắn sim số 0582058681, đây là tài sản của Châu Văn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại chiếc điện thoại di động trên cho V.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 86K3-8580, do bà Nguyễn Thị Yến P1 (sinh năm 1979, trú tại khu phố 9, B, thành phố P) đứng tên chủ sở hữu. Bà P1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân). Châu Văn T (sinh năm 1987, trú tại khu phố 5, phường Ph Hài, thành phố P, là anh của Châu Văn V) khai mua lại của 01 người phụ nữ (không rõ nhân thân) từ năm 2013 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 16/6/2022, T cho V mượn chiếc xe trên làm phương tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 86K3-8580 cho Thắng.

Quá trình điều tra, bị cáo Châu Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên V khai nhận mua ma túy để sử dụng chứ không nhằm mục đích bán cho người khác.

Tại bản cáo trạng số 241/CT-VKSPT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh B đã truy tố Châu Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát biểu lời luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Châu Văn V từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Đồng thời đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 661, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ảnh hưởng đến gia đình, xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân vi phạm pháp pháp luật, ảnh hưởng xấu đến xã hội, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo trở về với gia đình, bị cáo không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về căn cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo V thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời khai nhận này của bị cáo V phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 10 Ph t ngày 16/6/2022, tại hẻm 277 đường Hải Thượng Lãn Ông thuộc khu phố 2, phường T, thành phố P, Châu Văn V đang tàng trữ trái phép 0,1367 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố P phối hợp với Công an phường Phú Tài bắt quả tang.

Tại Cáo trạng số 241/CT-VKSPT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 và tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo nhận thức được “Methamphetamine” là loại chất gây nghiện nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng …trái phép, vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người trong cộng đồng và trật tự trị an xã hội. Tuy nhận thức được điều này nhưng bị cáo vẫn bất chấp sự trừng trị của pháp luật, bất chấp hậu quả mà ma túy mang lại vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép. Hành vi của bị cáo Châu Văn V là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Xét thấy, với tình hình tội phạm về ma túy đang ngày một gia tăng, mà địa bàn Thành phố P là một trong những địa phương có tình hình tội phạm về ma túy diễn biến hết sức phức tạp, thu hút nhiều con nghiện ở các địa phương khác đến mua bán, tàng trữ, sử dụng… ma túy, dư luận xã hội bất bình. Do đó, để đảm bảo yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cũng như lập lại trật tự công cộng, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt có xem xét cho bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo xét thấy: Hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt này không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới. Ngoài ra mức hình phạt đối với bị cáo còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Châu Văn V từ 12 đến 18 tháng tù. Xét lời đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật, tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét cho bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là sai trái nên xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo, để tạo cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa bản thân.

Đồng thời đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 661, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế nên tịch thu tiêu hủy đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với số vật chứng, tài sản gồm: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 611, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Châu Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Châu Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

2/ Biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

Tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 661, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế.

(theo biên bản bàn giao vật chứng tài sản số 74 ngày 12/12/2022).

3/Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Châu Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2022).

Cỡ chữ