vanban.org

Bản án 258/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 08/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Tấn T được ly hôn với bà Đỗ Thị P. Về con chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Tấn T- Đỗ Thị P"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19-12-2022
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Ông Nguyễn Đức Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 298/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Tấn T, nơi cư trú: 3 Dahlia St.Kitchener, On. Canada N2E 3Y9.

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị P, nơi cư trú: Thôn 7, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. .

Các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn – ông Lê Tấn T (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), bản tự khai của bị đơn - bà Đỗ Thị P thống nhất trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Ông Lê Tấn T kết hôn với bà Đỗ Thị P trên cơ sở tự nguyện của hai bên, tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 7 năm 2016. Sau khi cưới, vợ chồng ông bà sang Canada sinh sống và làm ăn, nhưng vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do sau khi kết hôn, ông Lê Tấn T không thể làm thủ tục bảo lãnh cho bà Đỗ Thị P sang Canada sinh sống nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay ông bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, cuộc sống vợ chồng không có tương lai nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, ông bà giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện, bản tự khai và không có sự thay đổi nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn. Nguyên đơn ông Lê Tấn T có quốc tịch Canada và hiện đang sinh sống ở Canada, bị đơn bà Đỗ Thị P hiện nay đang sinh sống ở thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 7 năm 2016, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Quá trình sinh sống của vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Lê Tấn T không đủ điều kiện làm thủ tục bảo lãnh cho bà Đỗ Thị P sang Canada sinh sống, để vợ chồng đoàn tụ. Do đó, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay ông bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho ông Lê Tấn T được ly hôn với bà Đỗ Thị P.

Về con chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Tấn T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tấn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Tấn T được ly hôn với bà Đỗ Thị P.

2. Về con chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Ông Lê Tấn T và bà Đỗ Thị P đều xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Tấn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000948 ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Ông Lê Tấn T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Ông Lê Tấn T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Bà Đỗ Thị P (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ