vanban.org

Bản án 258/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/02/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d…

Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn lê thị bích t"
  • Tòa quyết gì? 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Nhanh

2. Bà Phạm Thị Hồng Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 564/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1980 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: 221A/7 T, Tổ 2, Khu phố 4, phường H, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Quốc tịch: Jordan.

Địa chỉ: South Ahunah Ramah Amman Jordan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 11 năm 2019 và Bản tự khai ngày 03 tháng 02 năm 2020 nguyên đơn bà Lê Thị Bích P trình bày:

Bà và ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 6/72/35 ngày 16/12/2009 tại Vương quốc Hashemite Jordan, ghi chú kết hôn tại Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào Sổ các việc hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài số 167/STP-XN ngày 16/5/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến đầu năm 2011, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống do có sự khác biệt về tôn giáo và ngôn ngữ. Tháng 5/2011, ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H trở về Jordan, bà ở lại Việt Nam. Hiện nay, vợ chồng không liên lạc với nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án. Ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các thủ tục tống đạt triệu tập đương sự hợp lệ theo quy định nhưng vẫn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Bà Lê Thị Bích P khai không còn tình cảm với ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H, cuộc sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bích P có cơ sở chấp nhận. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Bích P khai không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: [1.1] Về thẩm quyền của Tòa án: Bà Lê Thị Bích P là nguyên đơn hiện đang cư trú tại 221A/7 T, Tổ 2, Khu phố 4, phường H, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H cư trú tại Vương quốc Hashemite Jordan. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn cư trú ở nước ngoài nên căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Lê Thị Bích P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Bích P. Đối với ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp đối với ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H theo quy định pháp luật nhưng không có kết quả và cũng không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ do ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H cung cấp nên căn cứ Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị Bích P và ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 6/72/35 ngày 16/12/2009 do Tòa án Shariite thuộc Ibid của Vương quốc Hashemite Jordan cấp, ghi chú kết hôn tại Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy xác nhận số 167/STP-XN ngày 16/5/2012 là phù hợp với quy định tại Điều 6, Điều 55 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch nên hôn nhân giữa bà Lê Thị Bích P và ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H là hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Bích P, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H định cư ở Vương quốc Hashemite Jordan. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên không hiểu nhau dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc, không quan tâm nhau. Nay bà Lê Thị Bích P xác nhận không còn tình cảm với ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H. Về phía ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp thông báo về việc thụ lý vụ án và ngày, giờ đưa vụ án ra xét xử nhưng không nhận được trả lời của ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H. Xét hiện nay mỗi người sống một nơi, tình cảm vợ chồng không có điều kiện hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Lê Thị Bích P xin ly hôn ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí:

Bà Lê Thị Bích P là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều

477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Bích P và ông Muheib Tawfiq Aqeil Bani H. 2. Về con chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết. 4. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích P chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai số 0045430 ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Bích P đã nộp đủ án phí sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ