- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuy n bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 260 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258/2020/HS-ST Ngày: 28-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trương Ngọc Điệp;
2/ Ông Võ Hùng Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 223/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và t n: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1991 tại tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Ki n Giang; tạm trú: tổ 20, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Tài xế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Huỳnh Thị H; có vợ là chị Nguyễn Thị Lan A và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phi n tòa.
Bị hại: Tạ Thị Đ (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Ông L Văn P, sinh năm 1972; địa chỉ: đường N, khu phố 8, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2. Bà L Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
3. Ông L Văn S, sinh năm 1979; địa chỉ: Trường C, Phường 15, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H và ông S: Ông L Văn P, sinh năm 1972; địa chỉ: đường N, khu phố 8, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Bị đơn dân sự: Bà Bùi Thị Thu V, sinh năm 1983, cư trú tại khu phố 3, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là người có Giấy phép lái xe hạng C, số 750X602XXXX do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 18/10/2016, có giá trị đến ngày 18/10/2021; và H là tài xế lái xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Dongfeng, tải trọng X.300 kg, biển số 60C-237.XX cho bà Bùi Thị Thu V.
Khoảng 23 giờ ngày 03/11/2019, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Dongfeng, tải trọng X.300 kg, biển số 60C-237.XX chở hàng đi từ nhà máy Suntory P thuộc Khu Công nghiệp A, địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến thành phố T, tỉnh Tây Ninh để giao hàng. Sau khi giao hàng xong, H điều khiển xe ô tô quay về Khu Công nghiệp A. Đến khoảng 09 giờ 30 ngày 04/11/2019, khi H điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-237.XX chạy về đến Quốc lộ X theo hướng đi từ giao lộ Quốc lộ X và đường N về hướng giao lộ Quốc lộ X và đường Trần Ngọc L thì lúc này tình hình thời tiết là trời nắng, đường khô ráo và mật độ pH tiện lưu thông tr n Quốc lộ X là bình thường. Khi xe ô tô do H điều khiển xe ô tô chạy đến giao lộ Quốc lộ X và đường ĐX (ngã ba), đoạn thuộc khu phố 2, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì đèn tính hiệu giao thông theo chiều xe đi của H là đèn đỏ n n H cho xe dừng chờ đèn đỏ, cùng lúc này có bà Tạ Thị Đ điều khiển xe đạp đi cùng chiều dừng xe ở phía b n phải xe ô tô của H. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh, bà Đ điều khiển xe đạp đi thẳng về phía trước (hướng về giao lộ Quốc lộ X và đường Trần Ngọc L) thì đồng thời lúc đó H bật đèn xi nhan b n phải và điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-237.XX chuyển hướng sang phải để vào đường ĐX (hướng về giao lộ đường ĐX và đường M). Do H thiếu chú ý quan sát khi điều khiển xe ô tô chuyển hướng n n đã để phía trước b n phải đầu xe ô tô biển số 60C-237.XX đụng vào phía sau b n trái xe đạp do bà Đ điều khiển làm cho bà Đ cùng xe đạp đổ ngã xuống đường và bánh trước b n trái xe ô tô tải biển số 60C-237.XX cán qua người bà Đ và xe đạp dẫn đến hậu quả bà Đ bị chết tại hiện trường còn xe đạp bị hư hỏng.
* Căn cứ Bi n bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 09 giờ 45 ngày 04/11/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định như sau:
- Hiện trường vụ tai nạn giao thông là khu vực giao lộ Quốc lộ X và đường ĐX thuộc khu phố 2, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; giao lộ tại đây được trải nhựa bằng phẳng, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông đang hoạt động và có tầm nhìn không bị hạn chế. Quốc lộ X tại đây là đường hai chiều, phân biệt bởi dãy phân cách cố định; mỗi phần đường được chia thành ba làn đường, bao gồm: Làn đường dành cho xe ô tô con, rộng 3,6 mét; Làn đường dành cho xe ô tô tải, rộng 3,8 mét; Làn đường dành cho xe mô tô, xe máy, rộng 3,7 mét. Đường ĐX tại đây là đường hai chiều, phân biệt bởi vạch S liền, mặt đường rộng 09 mét.
- Điều kiện thời tiết: Buổi sáng, trời khô ráo, ánh sáng tự nhiên.
- Tình trạng hiện trường: Còn nguyên vẹn.
- Lấy trụ điện số 106 trên hành lan đường bộ bên phải Quốc lộ X, hướng từ giao lộ Quốc lộ X và đường Nguyễn Chí T về hướng giao lộ Quốc lộ X và đường Trần Ngọc L làm mốc cố định. Lấy mép phải Quốc lộ X làm mép chuẩn thứ nhất. Lấy mép phải đường ĐX theo hướng Quốc lộ X và đường ĐX về giao lộ đường ĐX và đường Mỹ Phước – Tân Vạn làm mép chuẩn thứ hai.
- Dấu vết tại hiện trường:
+ Tử thi (1) nằm ngửa tr n mặt đường phần đường b n phải đường ĐX; đầu tử thi quay hướng về lề đường b n trái đường ĐX vị trí cách mép lề phải Quốc lộ X là 2,8 mét và cách mép lề phải đường ĐX là 2,2 mét; hai chân tử thi chèn giữa khung xe đạp, cách mép lề phải đường ĐX là 1,1 mét.
+ Xe đạp (2) ngã sang phải tr n mặt đường phần đường b n phải đường ĐX ngay vị trí tử thi; đầu xe quay hướng về lề đường b n trái Quốc lộ X; tâm trục bánh trước xe đạp cách mép lề phải Quốc lộ X là 1,8 mét, cách mép lề phải đường ĐX là 1,4 mét, cách đầu tử thi là 1,2 mét, cách trụ điện số 106 là 17,2 mét; tâm trục bánh sau xe đạp cách mép lề phải đường ĐX là 0,9 mét.
+ Xe ô tô biển số 60C-237.XX (3) đỗ tr n phần đường b n phải đường ĐX, đầu xe quay hướng về giao lộ đường ĐX và đường Mỹ Phước – Tân Vạn; vị trí tâm đầu trục bánh trước b n phải cách mép lề phải đường ĐX là 0,9 mét; tâm đầu trục bánh sau cùng b n phải cách mép lề phải đường ĐX là 0,7 mét và cách trục bánh sau xe đạp là 9,3 mét.
* Căn cứ Bi n bản khám nghiệm pH tiện li n quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 07 giờ 30 Pt ngày 07/11/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết tr n xe đạp như sau:
- Xe bị gãy, biếng dạng hoàn toàn.
- Cạnh trái gác baga sau có vết trượt dính S màu vàng, kích thước (2,5 x 0,2) cm, cao cách đất 65 cm; thanh đỡ đứng b n trái gác baga sau có vết trượt dính S màu vàng, kích thước (9,5 x 0,2) cm, cao cách đất 50 cm.
- Gãy rời bánh xe trước.
- Móp méo, biến dạng giỏ trước xe.
- Cong, gãy, biến dạng bánh sau từ trái qua phải.
- Cạnh b n phải bánh sau, mặt b n phải trục sau mài mòn hằn dính bụi b tông, nhựa đường.
* Căn cứ Bi n bản khám nghiệm pH tiện li n quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 08 giờ 15 Pt ngày 07/11/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết tr n xe ô tô biển số 60C-237.XX như sau:
- Góc trước phải đầu cản trước có nhiều vết trầy xước S màu vàng tr n diện rộng, kích thước (5,5 x 0,2) cm, cao cách đất từ 66 cm đến 69 cm, cạnh dưới có vết trầy xước S màu vàng, kích thước (05 x 2,5) cm, cao cách đất 53 cm; chiều hướng từ trước về sau.
- Mặt ngoài bậc L xuống cabin b n phải có vết trượt mất bụi và trầy xước kim loại, kích thước (6,5 x 0,3) cm, cao cách đất 59 cm, chiều hướng từ trước về sau.
- Mặt dưới trục bánh trước có nhiều vết chùi mất bụi, nhiều về b n trái.
* Căn cứ Kết luận giám định số 186/GĐCH-PC09 ngày 01/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương, kết luận như sau:
1. Dấu vết trượt xước mất S màu vàng cạnh tr n và cạnh dưới góc cảng trước b n phải của xe ô tô tải biển số 60C-237.XX có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu vàng (dạng S) ở cạnh trái gác baga sau và mặt ngoài thanh đỡ đứng b n trái gác baga sau của xe đạp, có chiều từ sau về trước.
2. Cơ chế hình thành dấu vết: Xe ô tô tải đang lưu thông tr n đường Quốc lộ X, chuyển hướng rẽ phải thì xảy ra va chạm với xe đạp cùng chiều phía trước b n phải (như mục 1) làm xe đạp đổ ngã qua phải trượt tr n mặt đường tạo ra các dấu vết tr n hai pH tiện.
* Căn cứ Kết luận giám định pháp y tử thi số 905/GĐPY ngày 07/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh Bình Dương kết luận đối với tử thi nữ giới (Tạ Thị Đ) như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Biến dạng vùng bụng, bẹn. Gãy hở, dập cơ xương cẳng chân. Vỡ xương chậu. Dập rách mạc treo, ruột, Pc mạc. Vỡ bàng quang, phần phụ, trực tràng. Dập đứt động mạch, tĩnh mạch bụng, bẹn. ổ bụng chứa khoảng 1.500 ml máu.
2. Nguy n nhân chết: Đa chấn tH.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn n u tr n, vào ngày 26/11/2019 Nguyễn Văn H cùng bà Bùi Thị Thu V (là chủ xe ô tô tải biển số biển số 60C-237.XX) đã thỏa thuận và bồi thường cho ông L Văn P (là con của bị hại Tạ Thị Đ và là người đại diện theo ủy quyền của người thân bị hại Đ) chi phí mai táng bị hại Đ và tiền tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Hiện ông P không có y u cầu bồi thường th m gì khác cũng như y u cầu không định giá thiệt hại đối với chiếc xe đạp của bị hại Đ và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đề ngày 26/11/2019 cho H.
Đối với 01 (một) xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Dongfeng, tải trọng X.300 kg, biển số 60C-237.XX và một số giấy tờ có li n quan đến xe ô tô tr n được thu giữ từ Nguyễn Văn H, vào ngày 26/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả lại cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị Thu V theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 14 ngày 20/11/2019.
Đối với 01 (một) chiếc xe đạp, quá trình điều tra xác định là của bà Tạ Thị Đ và ông L Văn P không y u cầu giám định thiệt hại đối với chiếc xe đạp tr n n n vào ngày 26/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả lại chiếc xe đạp tr n cho ông P theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 16 ngày 20/11/2019.
Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số 750X602XXXX do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp cho Nguyễn Văn H, xét thấy đây là Giấy phép do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho H, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, xử lý đối với H theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 233/CT-VKS-HS ngày 20/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phi n tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguy n quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử tuy n trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 750X602XXXX do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 18/10/2016, có giá trị đến ngày 18/10/2021 mang tên Nguyễn Văn H.
Tại phi n tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nH định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Tại phi n tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bi n bản hỏi cung bị can, bi n bản lấy lời khai đại diện hợp pháp của bị hại, bi n bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 Pt ngày 04/11/2019, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu Dongfeng, tải trọng X.300 kg, biển số 60C-237.XX chạy trên Quốc lộ X theo hướng từ đường Nguyễn Chí Thanh đến giao lộ Quốc lộ X và đường ĐX (ngã ba) thuộc khu phố 2, phường Định Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. H điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang phải vào đường ĐX nhưng do thiếu chú ý quan sát đã gây tai nạn với xe đạp do bị hại Tạ Thị Đ điều khiển chạy cùng chiều bên phải, dẫn đến hậu quả bị hại Đ chết tại hiện trường. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông phức tạp như hiện nay, là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người điều khiển pH tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghi m trọng đến sức khỏe của nạn nhân. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghi m, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết trong vụ án, xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, có nơi cư trú ổn định, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho xã hội. Do đó, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp n n Hội đồng xét xử chấp nH.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Không có y u cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về biện pháp tư pháp: Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 750X602XXXX do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 18/10/2016, có giá trị đến ngày 18/10/2021 mang tên Nguyễn Văn H.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, X6, 260, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuy n bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (28/9/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H về Ủy ban nhân dân phường Long Bình, thành phố Bi n Hòa, tỉnh Đồng Nai trực tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở L thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4/ Về biện pháp tư pháp: Trả cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số 750X602XXXX do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 18/10/2016, có giá trị đến ngày 18/10/2021 mang tên Nguyễn Văn H.
(Thể hiện tại biên bản giao nH vật chứng số 190.20 ngày 21/8/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một)
5/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nH được bản án hoặc ngày bản án được ni m yết công khai. Nơi nH:
| - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THA thành phố Thủ Dầu Một; - Uỷ ban nhân dân phường Long Bình, thành phố Bi n Hòa, tỉnh Đồng Nai; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Châu Giang |