- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 258 /2018/HSST Ngày: 30/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD -TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Thảo và ông Đào Duy Ngọc
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 247/2018/HSST ngày 19/11/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253 /2018/HSST- QĐ ngày 19/11/2018, đối với bị cáo:
Vũ Đình T, sinh năm: 1985; ĐKHKTT và chỗ ở: Số 4/5/33 Địch Hòa, Khu 3, phường VH, thành phố HD, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Đình Ch (ông Ch là thương binh loại A, hạng 4/4) và bà Phạm Thị V; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ Phạm Thị Th, sinh năm: 1985; Có 03 con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2018, chuyển tạm giam từ ngày 25/9/2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
1. Anh Lê Đăng Đ, sinh năm1973; Cư trú tại: Thôn Phú Lương, xã NĐ, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.
2. Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1970; Cư trú tại: Số 5/5/61 phố Trần Phú, phường TP, thành phố HD, tỉnh Hải Dương.
Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Đình T có sử dụng chất ma túy tổng hợp. Khoảng 22h30’ ngày 22/9/2018, T điều khiển xe môtô Honda Wave Blade màu trắng đen, biển số 34B2-720.53 (mượn của vợ T là chị Phạm Thị Th) đến khu vực đường Tuệ Tĩnh, phường BH, thành phố HD mua được 01 gói ma túy tổng hợp với số tiền 200.000đ của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi cầm ở tay trái đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 22h45’ cùng ngày, khi T đi đến đầu ngõ 54 đường Tuệ Tĩnh, phường BH, thành phố HD thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố HD kiểm tra. T thả gói ma túy xuống dưới đất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố HD thu giữ tại vị trí T đang đứng 01 gói nilon màu trắng, kích thước (2 x 2)cm bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển số 34B2 - 720.53 trước sự chứng kiến của anh Lê Đăng Đ ở thôn Phú Lương, xã NĐ, thành phố HD và anh Nguyễn Xuân H ở số 5/5/61 phố Trần Phú, phường TP, thành phố HD.
Tại Kết luận giám định số 561/KLGĐ-PC09 ngày 25/9/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thư ghi thu của Vũ Đình T, gửi đến giám định có khối lượng là 0,363 gam là loại Methamphetamine. (Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Về vật chứng:
- Đối với 0,275 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 561/KLGĐ - PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố HD chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với xe môtô Honda Blade màu trắng đen, biển số 34B2 -720.53 chị Phạm Thị Th xác định mua đầu năm 2017 của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 4.000.000đồng tại ngã tư Bến Hàn, thành phố HD, tỉnh Hải Dương nhưng không có giấy tờ xe. Quá trình xác minh xác định xe môtô Honda Blade màu trắng đen, biển số 34B - 038.14 với số khung: RLHJA3614EY506510, số máy: JA36E0045065 có biển số chính xác 15B2 - 038.14, chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ph ở tổ 9, phường Đẳng Hải, Quận HA, thành phố HP. Bà Phòng xác định xe môtô bị kẻ gian trộm cắp ngày 16/4/2016 và đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận HA, thành phố HP. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố HD đã chuyển chiếc xe môtô cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận HA, thành phố HP để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cáo trạng số 257/VKS-HS ngày 15/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/9/2018; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,275 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 561/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án 200.000đ phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Vũ Đình T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 22/9/2018, tại đầu ngõ 54 đường Tuệ Tĩnh, phường BH, thành phố HD, Vũ Đình T đang cất giấu trái phép 0,363 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố HD bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện, ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Việc bị cáo cất giấu trái phép 0,363 gam Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ông Vũ Đình Ch (bố đẻ bị cáo) là thương binh loại A, hạng 4/4 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với 0, 275 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 561/KLGĐ- PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương. Xét Methamphetamine là chất cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với xe môtô Honda Blade màu trắng đen, biển số 34B2 -720.53 chị Phạm Thị Th xác định mua đầu năm 2017 của một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 4.000.000đồng tại ngã tư Bến Hàn, thành phố HD, tỉnh Hải Dương nhưng không có giấy tờ xe. Quá trình xác minh xác định xe môtô Honda Blade màu trắng đen, biển số 34B - 038.14 với số khung: RLHJA3614EY506510, số máy: JA36E0045065 có biển số chính xác 15B2 - 038.14, chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Ph ở tổ 9, phường Đẳng Hải, Quận HA, thành phố HP. Bà Ph xác định xe môtô bị kẻ gian trộm cắp ngày 16/4/2016 và đã trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận HA, thành phố HP. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố HD đã chuyển chiếc xe môtô cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận HA, thành phố HP để giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về vấn đề khác: Đối với chị Phạm Thị Th cho T mượn xe môtô nhưng không biết T sử dụng vào việc phạm tội; không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho T nên không có căn cứ xử lý là phù hợp pháp luật.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố HD, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2018.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0, 275 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 561/KLGĐ- PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố HD và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HD ngày 26/11/2018).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Đình T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/11/2018)./.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND thành phố HD; - Cơ quan CSĐT- Công an TP Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố HD; - Trại tạm giam Kim Chi; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |