vanban.org

Bản án 258/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Minh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/06/2018 (ngày bắt quả tang).

Về vật chứng (Hiện" đang" lưu" giữ" tại" chi" cục" thi" hành" án" dân" sự" quận" Hoàng"Mai"theo"biên"bản"giao"nhận"vật"chứng"số"280/2018"ngày 06/09/2018): Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,223 gam Heroin; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu hồng có s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Minh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/06/2018 (ngày bắt quả tang).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 258/2018/HSST
Ngày: 27/09/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Đỗ Thị Diệu Thúy

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:" 1. Ông Nguyễn Ngọc Ước "

2. Ông Nguyễn Văn Vỹ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên - Thư ký Tòa án."

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 09 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 277/2018/HSST ngày 11 tháng 09 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/HSST-QĐ ngày 17 tháng 09 năm 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN MINH T, sinh năm 1964 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 757 H14 T, phường T, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Huy C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; Tiền án: Ngày 08/04/2003, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 10/09/2010, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Tháng 9/ 1985, Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân (đã hết thời hiệu); Tháng 4/1989, Công an thành phố Hà Nội xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân (đã hết thời hiệu); Tháng 11/1994, Công an huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử lý hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã hết thời hiệu); Tháng 8/2000, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định đưa vào cơ sở giáo dục (đã hết thời hiệu); Ngày 10/05/1983, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; Ngày 01/08/1984, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản riêng của công dân”, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” theo bản án số 90/PTHS ngày 10/05/1983 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 32 tháng tù (đã xóa án tích); Ngày 08/08/1995, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (đã xóa án tích); Ngày 26/12/1998, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng từ về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (đã xóa án tích). Bị bắt quả tang ngày 04/06/2018; bị tạm giữ 05/06/2018; tạm giam ngày 14/06/2018. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình H - sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: 757 H14 T, phường T, quận H, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua" các" tài"liệu"có" trong" hồ" sơ" vụ" án"và"quá"trình" xét"hỏi" tranh" luận" tại" phiên"tòa,"nội"dung"vụ"án"được"tóm"tắt"như"sau:

Hồi 16 giờ 45 phút ngày 04/06/2018, tại khu vực Cầu Sét thuộc phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội, tổ công tác công an phường Tương Mai phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Minh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo ngực bên trái đang mặc của T 01 túi nilon màu xanh kích thước 08x12cm bên trong có 04 gói nilon nhỏ màu hồng kích thước 05x01cm chứa chất bột màu trắng. Qua giám định, số ma túy thu giữ của T là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,223 gam. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/06/2018, T đi xe buýt một mình đến khu vực Trại Găng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroin với giá 400.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy mua được về khu vực cầu Pháp Vân, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tại đây, T dùng tay chia nhỏ gói ma túy vừa mua được thành 05 gói nhỏ, T sử dụng hết 01 gói, còn lại 04 gói T để vào 01 túi nilon cất trong túi áo ngực bên trái đang mặc với mục đích sẽ bán số ma túy này với giá 100.000 đồng/ 01 gói. Sau đó, T đi bộ về bến xe Nước Ngầm để lấy xe máy Honda Wave màu đỏ BKS: 30K9-4656 gửi ở đó để đi làm xe ôm và xem ai có nhu cầu mua ma túy thì bán. Đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, T nhận được điện thoại của một người bạn xã hội tên Tr gọi từ số thuê bao 0981760087 hỏi mua ma túy. T đồng ý và hẹn Tr đến cầu Sét để giao ma túy nhưng chưa kịp giao thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Tại bản cáo trạng số 279/CT-VKS ngày 05 tháng 09 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm q Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Minh T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,223 gam Heroin; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu hồng; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 700.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Minh T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"được" thẩm"tra,"xét"hỏi,"tranh"luận"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"thấy"như"sau:"

Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện là hợp pháp.

Ngày 04/06/2018, Nguyễn Minh T đã có hành vi tàng trữ nhằm bán trái phép cho người khác 0,223 gam Heroin - một chất ma túy độc hại. Đối chiếu Pháp luật, Nguyễn Minh T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có 06 tiền án, trong đó 02 tiền án năm 2003 và năm 2010 chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Theo lời khai của bị cáo, có đối tượng tên Tr có số điện thoại 0981760087 đã gọi điện thoại hỏi mua ma túy của bị cáo, cơ quan điều tra đã ra Quyết định thu giữ điện tín để xác định chủ thuê bao của số điện thoại này nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

Ma túy là hiểm hoạ của xã hội, bởi nó không chỉ là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước và là tác nhân làm cho tệ nạn ma túy phát triển. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã có 06 tiền án, 04 tiền sự, trong đó có 02 tiền án về tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa nhưng các tiền án này đã là dấu hiệu định khung hình phạt đối với bị cáo trong lần phạm tội này nên không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Để trừng trị đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Tại"cơ"quan"điều"tra"cũng"như" tại"phiên"tòa,"bị"cáo"thành"khẩn"khai"báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền."

Về vật chứng: 01 bao niêm phong bên trong có 0,223 gam Heroin thu giữ của Nguyễn Minh T là chất độc hại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Ngoài ra, khi bắt giữ bị cáo, cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 xe máy Honda nhãn hiệu Wave anpha BKS: 30K9-4656, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 700.000 đồng.

Đối với chiếc xe máy thu giữ của bị cáo, qua xác minh, xe mang tên chủ sử dụng là chị Thành Thị H (sinh năm 1975, trú tại: số 7, ngách 192/14 G, phường P, quận Đ, Hà Nội). Chị H đã bán lại cho anh Nguyễn Đình H (sinh năm 1986, trú tại: 757 H14 T, phường T, quận H, Hà Nội là cháu bị cáo). Anh H cho bị cáo mượn để làm xe ôm nhưng không biết bị cáo sử dụng để làm phương tiện mua, bán ma túy, do đó, Cơ quan Công an trao trả chiếc xe trên cho chủ sở hữu.

02 chiếc điện thoại di động và số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo, có 01 điện thoại Nokia màu hồng là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc điện thoại Nokia màu đen và số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Vì"các"lẽ"trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm q Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt:

Nguyễn Minh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/06/2018 (ngày bắt quả tang).

Về vật chứng (Hiện" đang" lưu" giữ" tại" chi" cục" thi" hành" án" dân" sự" quận" Hoàng"Mai"theo"biên"bản"giao"nhận"vật"chứng"số"280/2018"ngày 06/09/2018):

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,223 gam Heroin; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu hồng có số Imei: 351848071127176 thu giữ của Nguyễn Minh T.

- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số Imei: 359039040891363 và số tiền 700.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ