- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Thùy D - Nguyễn Văn Minh E"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án: 257/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20/7/2023 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thành Chúng;
2. Ông Phan Phước Tân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau San - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 189/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2023/QĐXXST-HN ngày 09 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 272/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thùy D, sinh năm 1988; cư trú: Tổ 10, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Minh E, sinh năm 1981; cư trú: Tổ 10, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bà D vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông E vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trương Thị Thùy D trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn Minh E do cha mẹ định đoạt tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang vào ngày 18/6/2007. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tiền bạc không rõ ràng, không có tiếng nói chung. Bà và ông E đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian ly thân ông E không tới lui hàn gắn gia đình, cũng không chu cấp tiền để bà nuôi con chung, gia đình bên chồng cũng không hàn gắn và quan tâm. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Trương Thị Thùy D yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Minh E.
Về con chung: Có 03 con chung: 1/ Cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 23/12/2007; 2/ Cháu Nguyễn Văn M, sinh ngày 25/10/2009; 3/ Cháu Nguyễn Thị Kiều H, sinh ngày 21/7/2011. Hiện cháu K, cháu M, cháu H do bà Trương Thị Thùy D nuôi dưỡng, khi ly hôn bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng ba con chung, không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Biên bản lấy lời khai ngày 08/6/2023 người thân bà D cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà D, ông E là do ông E không chăm lo cuộc sống gia đình, đi làm không đưa tiền cho bà D, cả hai ly thân từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân thì ông E bỏ mặc vợ con và không tới lui hàn gắn; về con chung thì có 03 con chung, hiện do Dung nuôi dạy; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Biên bản xác minh ngày 08/6/2023, Công an xã V cung cấp, ông Nguyễn Văn Minh E hiện vẫn còn cư trú tại số nhà 1516, tổ 10, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông E không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến và ông E cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Để đảm bảo quyền lợi của ông E, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo về kết quả phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về việc Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, tuy nhiên ông E vẫn không có ý kiến.
Tại phiên tòa, bà D vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng ông E đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của bà D, ông E có mâu thuẫn trầm trọng, trong thời gian ly thân cả hai không có giải pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Các con chung đều có nguyện vọng tiếp tục sống với bà D, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của các cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp giao con chung cho bà D được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Thị Thùy D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Minh E. Ông E cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà D vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông E được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà D, ông E do cha mẹ định đoạt, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang vào ngày 18/6/2007 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà D xin ly hôn với ông E. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D, ông E phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng ông E không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình bà D, ông E, nên yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 03 con chung: 1/ Cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 23/12/2007; 2/ Cháu Nguyễn Văn M, sinh ngày 25/10/2009; 3/ Cháu Nguyễn Thị Kiều H, sinh ngày 21/7/2011. Hiện cháu K, cháu M, cháu H do bà Trương Thị Thùy D nuôi dưỡng. Xét thấy, cả 03 con chung đều đang sống với bà D và các con chung đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà D, do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với các con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để bà D nuôi dạy con chung.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà D không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thùy D.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thùy D được ly hôn với ông Nguyễn Văn Minh E.
Giấy chứng nhận kết hôn số 121/HT ngày 18/6/2007 của Ủy ban nhân dân phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Trương Thị Thùy D được tiếp tục nuôi dạy 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 23/12/2007; Nguyễn Văn M, sinh ngày 25/10/2009 và Nguyễn Thị Kiều H, sinh ngày 21/7/2011.
Công nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông E cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông E cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà D. Ngược lại bà D và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Trương Thị Thùy D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số 0008290 ngày 10/5/2023. Ông E không phải chịu án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1) - VKSND huyện An Phú (2); - Chi cục THADS huyện An Phú (1); - Lưu văn phòng (1); - Các đương sự; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Chúc Phƣơng |