vanban.org

Bản án 257/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 08/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 07/2022/QĐ-VC2 ngày 19-5-2022 của Viện trưởng Viện liểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Đoàn Việt Đ và Lê Vạn N. Chấp nhận kháng cáo của các b cáo Nguyễn Bảo N và Nguyễn Đắc Duy H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Việt Đ cùng đồng phạm - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 07/2022/QĐ-VC2 ngày 19-5-2022 của Viện trưởng Viện liểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2022/HS-PT
Ngày: 08-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tào

Ông Nguyễn Tấn Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Trinh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.

Ngày 08-7-2022, tại trụ sở. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 220/2022/TLPT-HS ngày 01-6-2022 đối v i b cáo Đoàn Việt Đ, cùng đồng phạm. Do có kháng cáo của các b cáo và kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HSST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo kháng cáo và bị kháng nghị:

Đoàn Việt Đ, sinh ngày 10-11-1977 tại Thái Bình; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số 90/60B/08 đường T, tổ 9, phường P1, thành phố P2, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; gi i tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đoàn Bằng Đ1, sinh năm 1950 và bà Đoàn Th Th, sinh năm 1952; vợ là Đoàn Th Họa M, sinh năm 1992 và có 02 con.

Tiền án: Tại Bản án số 94/2008/HSST ngày 25-9-2008, Tòa án nhân dân thành phố P2, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 tháng (ngày 03-4-2020 nộp án phí hình sự sơ thẩm).

Nhân thân: Ngày 28-12-2018, Công an huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác.

B cáo b bắt tạm giam ngày 05-01-2020, đến ngày 01-4-2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Các bị cáo kháng cáo:

1. Nguyễn Bảo N, sinh ngày 03-01-1981 tại Hà Nội; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Số 195 Ngõ chợ K, phường T, quận Đ2, Thành phố Hà Nội; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; gi i tính: Nam; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Th Ph, sinh năm 1952; vợ là Đào Lan Ph1, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 200; tiền án, tiền sự: Không.

B cáo b bắt tạm giam ngày 05-01-2020, đến ngày 01-4-2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Vạn N, sinh ngày 01-4-1997 tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 1, phường T2, thành phố P2, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; gi i tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Vạn C, sinh năm 1972 và bà Lê Th H, sinh năm 1974.

Tiền sự: Ngày 29-01-2019, Công an thành phố P2 xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích.

Nhân thân: Ngày 29-7-2016, Công an huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi đánh nhau.

B cáo b bắt tạm giam ngày 05-01-2020, đến ngày 01-4-2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lãnh. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Đắc Duy H1, sinh ngày 30-8-2001 tại Gia Lai; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 2, th trấn C1, huyện C1, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; quốc t ch: Việt Nam; tôn giáo: Không; gi i tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đắc Quốc Việt (đã chết) và bà Nguyễn Th Hoa Đạm, sinh năm 1971; tiền án; tiền sự: Không.

B bắt tạm giữ ngày 05-01-2020, đến ngày 14-01-2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

(Vụ án còn có các bị cáo Phạm Công T2, Nguyễn Văn T3 nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị và có 95 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9-2018, Đoàn Việt Đ bàn bạc v i Nguyễn Quốc H2 (tên gọi khác H2 Top), Nguyễn Bảo N, Phạm Công T2 (tên gọi khác Út T2) và Nguyễn Văn T3 mở D ch vụ cầm đồ PL để hoạt động cho vay tiền, v i các hình thức cho vay thế chấp giấy tờ tùy thân, thế chấp Giấy đăng ký xe máy hoặc ô tô để lấy tiền lãi ăn chia và để cho Trần Quốc H2 đứng tên làm chủ hộ kinh doanh. Trư c khi mở D ch vụ cầm đồ, Đ liên hệ thuê nhà số 19 đường L, phường T2, thành phố P2, tỉnh Gia Lai của bà Trương Th Hạnh P2 v i giá thuê 4.500.000 đồng/tháng để làm đ a điểm kinh doanh, tiền thuê nhà do Đ trực tiếp thanh toán cho bà Phúc. Sau khi thuê nhà, Đ đầu tư tiền sửa sang, treo bảng quảng cáo, mua bàn ghế, tủ, két sắt, máy vi tính để mở D ch vụ cầm đồ.

Ngày 03-10-2018, Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban dân dân thành phố P2 cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 39A8011249 cho D ch vụ cầm đồ PL do Nguyễn Quốc H2 làm chủ hộ kinh doanh v i các ngành nghề: Mua bán hoa tươi, bán lẻ rượu, bia, thuốc lá điếu sản xuất trong nư c, bán cà phê giải khát, d ch vụ cầm đồ, cho thuê xe ô tô tự lái, mua bán xe ô tô, mô tô. Sau khi được cấp giấy phép, Đoàn Việt Đ đầu tư tiền vốn để các nhân viên của D ch vụ cầm đồ PL hoạt động cho vay tiền v i các hình thức như: Cho vay thế chấp các giấy tờ tùy thân (Sổ hộ khẩu gia đình, Chứng minh nhân dân, Giấy phép lái xe…) v i mức lãi suất 10.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương v i mức lãi suất 30%/tháng và 360%/năm); cho vay thế chấp Giấy đăng ý xe mô tô, ô tô v i các mức lãi suất từ 2.000 đồng - 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, lãi suất khách hàng phải đóng cho D ch vụ cầm đồ PL 10 ngày/lần. Khách hàng vay phải trả tiền lãi trư c của 10 ngày đầu và được trừ trực tiếp vào số tiền gốc. Đoàn Việt Đ không trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động cho vay tại D ch vụ cầm đồ PL mà giao cho Nguyễn Bảo N quản lý, điều hành, ghi chép theo dõi hoạt động cho vay và thu lãi của khách hàng, gọi điện thoại đôn đốc khách hàng thanh toán tiền gốc, lãi, hư ng dẫn, giải quyết hồ sơ cho khách vay tiền. Khi N đi vắng thì giao cho Nguyễn Quốc H2 quản lý. Ngày 15-3-2019, Nguyễn Văn T3 b Công an thành phố P2 bắt tạm giam về hành vi Cố ý gây thương tích nên không tham gia hoạt động cho vay. Ngày 01-6-2019, được sự đồng ý của Đ, Nguyễn Bảo N thuê Lê Vạn N làm việc và trả lương 10.000.000 đồng/tháng. Ngày 15-11-2019, N thuê Nguyễn Đắc Duy H1 làm việc và trả lương 4.000.000 đồng/tháng. Công việc hàng ngày của Nguyễn Quốc H2, Phạm Công T2, Nguyễn Văn T3, Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1 là thả, dán tờ rơi quảng cáo cho vay tiền, xác minh đ a chỉ, thông tin, tài sản của người vay trư c khi cho vay, thu tiền lãi, tiền gốc của khách hàng vay, đi đòi những khách hàng “Nợ xấu”. Tiền thu từ hoạt động cho vay được giao cho Nguyễn Bảo N quản lý. Sau đó, vào các ngày 3, 13 và 23 hàng tháng, Đ đến đối chiếu số tiền gốc cho vay, lãi thu được v i Nguyễn Bảo N. Tiền lãi thu được từ việc cho vay thế chấp giấy tờ tùy thân sau khi trừ các chi phí, Đ lấy 07 phần, 03 phần còn lại sau khi trả lương cho Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1, thì Nguyễn Bảo N, Nguyễn Quốc H2, Phạm Công T2 và Nguyễn Văn T3 chia nhau. Riêng lãi thu từ việc cho vay thế chấp giấy đăng ký xe thì Đ lấy hết.

Ngày 05-01-2020, trong lúc Nguyễn Bảo N cùng v i Đoàn Việt Đ, Nguyễn Đắc Duy H1 và Lê Vạn N đang thực hiện hành vi cho vay tiền v i mức lãi cao hơn quy đ nh của pháp luật tại D ch vụ cầm đồ PL, thì b Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai phát hiện, bắt quả tang. Khám xét chỗ ở của Đoàn Việt Đ tại số 90/60B/08 đường T, tổ 9, phường P1, thành phố P2 và chỗ ở của Nguyễn Bảo N tại 97/108 P1, tổ 15, phường P1, thành phố P2, Công an thu giữ nhiều tài liệu có liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự của đối tượng này.

Căn cứ vào sổ sách do Nguyễn Bảo N ghi chép theo dõi khách hàng vay tiền tại D ch vụ cầm đồ PL và lời khai của các đối tượng xác đ nh Đoàn Việt Đ đã đầu tư 1.360.000.000 đồng (một tỷ ba trăm sáu mươi triệu đồng) vào hoạt động cho vay lãi nặng. Từ tháng 10-2018 đến ngày 05-01-2020 các đối tượng đã cho 686 lượt khách hàng vay, v i tổng số tiền cho vay là 8.035.000.000 đồng (tám tỷ không trăm ba mươi lăm triệu đồng), tổng số tiền lãi thu được là 5.184.200.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi được sự cho phép theo quy đ nh của pháp luật (20%/năm) là 292.683.333 đồng, số tiền lãi thu vượt trên 20% trở lên (tiền thu lợi bất chính) là 4.891.516.667 đồng (bốn tỷ tám trăm chín mươi mốt triệu năm trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Số tiền gốc mà khách hàng còn nợ chưa trả cho các đối tượng là 1.655.000.000 đồng.

Số tiền thu lợi bất chính, Đoàn Việt Đ hưởng 3.424.061.666 đồng (tương ứng v i tỷ lệ 07 phần của tổng số tiền thu lợi bất chính). Số tiền 1.467.455.001 đồng còn lại (tương ứng v i tỷ lệ 03 phần của tổng số tiền thu lợi bất chính) do các đối tượng Nguyễn Bảo N, Nguyễn Quốc H2, Phạm Công T2, Nguyễn Văn T3, Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1 hưởng, cụ thể như sau: Nguyễn Bảo N, Nguyễn Quốc H2 và Phạm Công T2 hưởng lợi 433.513.472 đồng/người,

Lê Vạn N hưởng lợi 60.000.000 đồng (tương ứng v i 06 tháng tiền lương mà N đã làm), Nguyễn Đắc Duy H1 hưởng lợi 6.000.000 đồng (tương ứng v i thời gian 01 tháng 20 ngày làm), Nguyễn Văn T3 hưởng lợi 100.914.583 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 22-4-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai:

Tuyên bố các b cáo Đoàn Việt Đ, Nguyễn Bảo N, Phạm Công T2, Nguyễn Văn T3, Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự”.

1. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Bảo N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-01-2020 đến ngày 01-4-2020).

2. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đoàn Việt Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-01-2020 đến ngày 01-4-2020).

3. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Vạn N 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-01-2020 đến ngày 01-4-2020.

4. Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Đắc Duy H1 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05-01-2020 đến ngày 14-01-2020.

5. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Buộc các b cáo: Nguyễn Bảo N nộp 50.000.000 đồng, Đoàn Việt Đ nộp 30.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nư c.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt: Nguyễn Văn T3 10 (mười) tháng tù. Tổng hợp v i hình phạt 09 (chín) năm tù về tội “Giết người” của Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HSST ngày 14-6-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Buộc Nguyễn Văn T3 phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 09 (chín) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-4-2019; xử phạt: Phạm Công T2 09 (chín) tháng 15 (mười lăm) ngày tù (ằng thời hạn tạm giam từ ngày 13-8-2020 đến ngày 28-5-2021); quyết đ nh truy thu tiền nộp ngân sách Nhà nư c; giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự; hoàn trả tiền cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Kháng cáo, kháng nghị:

- Ngày 24-4-2022, Nguyễn Bảo N kháng cáo xin giảm hình phạt và xem xét lại phần dân sự; ngày 04-5-2022, kháng cáo bổ sung xin hưởng án treo và xin giảm số tiền buộc phải nộp ngân sách Nhà nư c.

- Ngày 24-4-2022, Nguyễn Đắc Duy H1 kháng cáo xin giảm hình phạt; ngày 04-5-2022, kháng cáo bổ sung xin hưởng án treo.

- Ngày 28-4-2022, Đoàn Việt Đ kháng cáo xin hưởng án treo.

- Ngày 28-4-2022, Lê Vạn N kháng cáo xin hưởng án treo.

- Tại Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 07/2022/QĐ-VC2 ngày 19-5-2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng sửa một phần bản án sơ thẩm, tăng hình phạt tù đối v i b cáo Đoàn Việt Đ.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Sau khi xét xử sơ thẩm, các b cáo Đoàn Việt Đ, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Đắc Duy H1 và Lê Vạn N kháng cáo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng ngh một phần bản án (đối v i Đoàn Việt Đ). Đơn kháng cáo của các b cáo và kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát là trong hạn quy đ nh tại khoản 1 Điều 333 và khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng xét xử quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các b cáo Đoàn Việt Đ và Lê Vạn N thay đổi kháng cáo, đề ngh giảm hình phạt; b cáo Nguyễn Bảo N rút nội dung kháng cáo về việc xem xét lại trách nhiệm dân sự và thay đổi nội dung kháng cáo, đề ngh giảm hình phạt; b cáo Nguyễn Đắc Duy H1 giữ nguyên kháng cáo, xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút kháng ngh đối v i Đoàn Việt Đ và đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 348; điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối v i Đoàn Việt Đ.

- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của b cáo Đoàn Việt Đ.

- Chấp nhận kháng cáo của các b cáo Nguyễn Bảo N, Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1.

- Sửa bản án hình sự sơ thẩm, giảm hình phạt cho các b cáo Nguyễn Bảo N và Lê Vạn N; giữ nguyên hình phạt và cho b cáo Nguyễn Đắc Duy H1 được hưởng án treo.

Các b cáo không tranh luận, chỉ xin giảm hình phạt.

. Xét kháng cáo của các b cáo:

. Về tội danh:

Sau khi Nguyễn Quốc H2 được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh d ch vụ cầm đồ PL, thì Đoàn Việt Đ bàn bạc v i Nguyễn Quốc H2 thực hiện hành vi cho vay tiền bằng hình thức như: Cho vay thế chấp bằng các giấy tờ tùy thân như Sổ hộ khẩu gia đình, Chứng minh nhân dân, Giấy phép lái xe…, v i mức lãi suất 10.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày; cho vay thế chấp Giấy đăng ý xe mô tô, ô tô v i các mức lãi suất từ 2.000 đồng - 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, lãi suất khách hàng phải đóng cho D ch vụ cầm đồ PL 10 ngày/lần. Khách hàng vay phải trả tiền lãi trư c của 10 ngày đầu và được trừ trực tiếp vào số tiền gốc.

Sau khi thống nhất, Đoàn Việt Đ đầu tư tiền để mua sắm, trang thiết b cho cơ sở kinh doanh, cấp vốn để cơ sở kinh doanh hoạt động, Nguyễn Bảo N quản lý, điều hành việc kinh doanh, còn Nguyễn Quốc H2, Phạm Công T2, Nguyễn Văn T3, Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1 thực hiện công việc thả, dán tờ rơi quảng cáo cho vay tiền, xác minh đ a chỉ, thông tin, tài sản của người vay trư c khi cho vay, thu tiền lãi, tiền gốc của khách hàng đã vay, đi đòi nợ những khách hàng đến hạn nhưng chưa trả, gọi là “Nợ xấu”. Tiền thu từ hoạt động cho vay được đưa về giao cho Nguyễn Bảo N quản lý. Sau đó, vào các ngày 03, 13 và 23 hàng tháng, Đoàn Việt Đ đối chiếu số tiền gốc cho vay, tiền lãi thu được v i Nguyễn Bảo N. Tiền lãi thu được từ việc cho vay thế chấp giấy tờ tùy thân sau khi trừ các chi phí, Đoàn Việt Đ lấy 07 phần, 03 phần còn lại, sau khi trả lương cho Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1, thì Nguyễn Bảo N, Nguyễn Quốc H2, Phạm Công T2 và Nguyễn Văn T3 chia nhau. Riêng lãi thu từ việc cho vay thế chấp giấy đăng ký xe thì Đ lấy hết.

Ngày 05-01-2020, trong lúc Nguyễn Bảo N cùng v i Đoàn Việt Đ, Nguyễn Đắc Duy H1 và Lê Vạn N đang thực hiện hành vi cho vay tiền v i mức lãi cao hơn quy đ nh của pháp luật tại D ch vụ cầm đồ PL, thì b Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra xác đ nh Đoàn Việt Đ đã đầu tư 1.360.000.000 đồng vào hoạt động cho vay lãi nặng. Từ tháng 10-2018 đến ngày 05-01-2020, các đối tượng đã cho 686 lượt khách hàng vay, v i tổng số tiền cho vay là 8.035.000.000 đồng, tổng số tiền lãi thu được là 5.184.200.000 đồng; trong đó, số tiền lãi theo quy đ nh của pháp luật (20%/năm) là 292.683.333 đồng, số tiền lãi thu vượt trên 20% trở lên (tiền thu lợi bất chính) là 4.891.516.667 đồng. Số tiền gốc mà khách hàng còn nợ chưa trả cho các đối tượng là 1.655.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của Đoàn Việt Đ, Nguyễn Bảo N cùng đồng phạm là cho vay tiền v i lãi suất 10.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương ứng v i lãi suất 30%/tháng, là mức lãi suất gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất được quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự để thu lợi bất chính; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các b cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về vai trò của các b cáo:

- Đối v i Nguyễn Bảo N và Đoàn Việt Đ:

Đoàn Việt Đ là người đầu tư tiền mua sắm, trang thiết b , cơ sở vật chất để kinh doanh, còn Nguyễn Bảo N là người quản lý, điều hành việc kinh doanh, cũng như phân công công việc hàng ngày cho các đồng phạm khác rồi cùng chia lợi nhuận v i Đ. Quá trình điều tra, Nguyễn Bảo N cho rằng b cáo chỉ cho vay riêng đối v i những người quen thân, còn toàn bộ người vay ghi trong sổ của b cáo là cho vay chung v i Đoàn Việt Đ. Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở để xác đ nh Nguyễn Bảo N có cho vay tiền riêng để thu lợi cá nhân. Đối chiếu số người vay, số lần vay ghi tại sổ của Nguyễn Bảo N và sổ của Đoàn Việt Đ từ thời điểm có phát sinh thể hiện Đoàn Việt Đ cho vay 259 lượt, tương đương 2.750.500.000 đồng, Nguyễn Bảo N cho vay 427 lượt, tương đương 5.284.500.000 đồng. Trong 14 quyển sổ thu tại cửa hàng do Nguyễn Bảo N quản lý, đã xác đ nh được N thu lợi bất chính là 4.891.516.667 đồng; trong 03 quyển sổ ghi chép của Đoàn Việt Đ đã được đối chiếu v i sổ ghi chép của Nguyễn Bảo N, xác đ nh được Đ thu lợi bất chính là 1.208.576.387 đồng.

Như vậy, Nguyễn Bảo N và Đoàn Việt Đ đều là người khởi xư ng và là người thực hành tích cực, nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của Nguyễn Bảo N cao hơn Đoàn Việt Đ.

- Đối v i Lê Vạn N và Nguyễn Đắc Duy H1:

Công việc chính của Lê Vạn N, Nguyễn Đắc Duy H1 và các b cáo không kháng cáo, không b kháng ngh (Phạm Công T2, Nguyễn Văn T3) là thay nhau đi thả, dán tờ rơi quảng cáo, xác minh đ a chỉ, thông tin, tài sản của người vay, thu tiền gốc, tiền lãi của người vay, đi đòi nợ của những người vay chưa trả tiền, do đó các b cáo cùng có vai trò là người thực hành. Lê Vạn N vào làm việc từ ngày 01-6-2019, đến ngày b bắt khoảng 6 tháng; Nguyễn Đắc Duy H1 vào làm việc từ ngày 15-11-2019, đến ngày b bắt khoảng hơn một tháng nên vai trò của Lê Vạn N cao hơn Nguyễn Đắc Duy H1.

. Về hình phạt chính:

Hành vi phạm tội của các b cáo trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tín dụng, lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, làm cho người vay thiệt hại một khoản lãi suất cao so v i quy đ nh của pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt Nguyễn Bảo N 18 (mười tám) tháng tù, Đoàn Việt Đ 09 (chín) tháng tù, Lê Vạn N 07 (bảy) tháng tù và Nguyễn Đắc Duy H1 05 (năm) tháng tù. Các b cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt cụ thể đối v i từng b cáo:

- Đối v i Đoàn Việt Đ:

Mặc dù, Đoàn Việt Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi phạm tội thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải; có công phát hiện, tố giác tội phạm (Giấy xác nhận của Công an huyện Đ4, tỉnh Kon Tum); b cáo có bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng; ngoài ra, trong quá trình chuẩn b xét xử phúc thẩm, b cáo tự nguyện nộp 30.000.000 đồng (tiền phạt sung quỹ Nhà nư c), 70.000.000 đồng (tiền truy thu để sung quỹ Nhà nư c) và tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo tự nguyện chuyển số tiền 199.500.000 đồng (do Tòa án cấp sơ thẩm tuyên trả lại b cáo) để trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của b cáo là đầu tư tiền mua sắm, trang thiết b , cơ sở vật chất để kinh doanh; phạm tội nhiều lần, số tiền thu lợi bất chính tương đối l n; đồng thời, b cáo có tiền án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và trư c đó, nhân thân của b cáo đã b xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác. Vì vậy, để cải tạo và giáo dục đối v i b cáo, cũng như ngăn chặn và phòng ngừa chung đối v i loại tội phạm này, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo.

- Đối v i Lê Vạn N:

Mặc dù, Lê Vạn N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không được chia tiền thu lợi bất chính; gia đình b cáo có hoàn cảnh khó khăn, nhưng nhân thân của b cáo không tốt, đã b Công an thành phố P2, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích và b Công an huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt b cáo, có như vậy m i đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục đối v i b cáo.

- Đối v i Nguyễn Bảo N:

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Bảo N cung cấp được chứng cứ để chứng minh có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự m i là tự nguyện nộp 50.000.000 đồng (tiền phạt sung quỹ Nhà nư c), 50.000.000 đồng (tiền truy thu sung quỹ Nhà nư c), 50.000.000 đồng để trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo tự nguyện chuyển số tiền 37.000.000 đồng và 100 USD (do Tòa án cấp sơ thẩm tuyên trả lại b cáo) để tiếp tục trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, theo Án lệ số 48/2021/AL ngày 25-11-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, b cáo còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng, gia đình b cáo có hoàn cảnh khó khăn, trư c khi phạm tội tích cực tham gia công tác xã hội. Do b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của b cáo.

- Đối v i Nguyễn Đắc Duy H1:

Nguyễn Đắc Duy H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là đồng phạm tham gia trong vụ án v i vai trò không đáng kể, không được chia tiền thu lợi bất chính; gia đình b cáo có hoàn cảnh khó khăn, theo hư ng dẫn tại Ngh quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của ngh quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì Nguyễn Đắc Duy H1 đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của b cáo.

. Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt tù, thì Tòa án cấp sơ thẩm còn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối v i Nguyễn Bảo N và Đoàn Việt Đ. Để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật về việc xử lý đối v i các hành vi cho vay lãi nặng, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt bổ sung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết đ nh đối v i các b cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Ngoài kháng cáo về trách nhiệm hình sự, thì Nguyễn Bảo N còn kháng cáo đề ngh xem xét lại trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, tại phần tranh tụng b cáo rút kháng cáo về nội dung này, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

. Xét kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát:

Tại Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 07/2022/QĐ-VC2 ngày 19-5-2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng sửa một phần bản án sơ thẩm, tăng hình phạt tù đối v i b cáo Đoàn Việt Đ. Tuy nhiên, tại phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã rút kháng ngh . Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i kháng ngh này.

. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b kháng cáo, kháng ngh , Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên Đoàn Việt Đ và Lê Vạn N phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

- Các b cáo Nguyễn Bảo N, Nguyễn Đắc Duy H1 được chấp nhận kháng cáo, nên không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i Quyết đ nh kháng ngh phúc thẩm số 07/2022/QĐ-VC2 ngày 19-5-2022 của Viện trưởng Viện liểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

2. Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, các điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Đoàn Việt Đ và Lê Vạn N.

- Chấp nhận kháng cáo của các b cáo Nguyễn Bảo N và Nguyễn Đắc Duy H1.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về phần hình phạt chính đối v i các b cáo Nguyễn Bảo N và Nguyễn Đắc Duy H1.

3. Về hình phạt:

3.1. Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Bảo N 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-01-2020 đến ngày 01-4-2020).

3.2. Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Đoàn Việt Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-01-2020 đến ngày 01-4-2020).

3.3. Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Lê Vạn N 07 (bảy) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-01-2020 đến ngày 01-4-2020).

3.4. Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Đắc Duy H1 05 (năm) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao b cáo Nguyễn Đắc Duy H1 cho UBND th trấn C1, huyện C1, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục b cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp b cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy đ nh tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; gia đình b cáo có trách nhiệm phối hợp v i chính quyền đ a phương trong việc giám sát, giáo dục b cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

- Buộc Nguyễn Bảo N phải nộp 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nư c.

Nguyễn Bảo N đã chấp hành xong khoản tiền phạt theo Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 07-7-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

- Buộc Đoàn Việt Đ phải nộp 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nư c.

Đoàn Việt Đ đã chấp hành xong khoản tiền phạt theo Biên lai thu tiền số 0000668 ngày 01-7-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

5. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

- Buộc Nguyễn Bảo N và Đoàn Việt Đ phải nộp tiền để sung quỹ Nhà nư c và trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết đ nh của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 22-4-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Tạm giữ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) còn lại của Nguyễn Bảo N tại Biên lai thu tiền số 0000335 ngày 07-7-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai và 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) còn lại của Đoàn Việt Đ tại Biên lai thu tiền số 0000668 ngày 01-7-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai để đảm bảo thi hành án.

6. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

7. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm b, h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Đoàn Việt Đ và Lê Vạn N, mỗi b cáo phải ch u 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

- Nguyễn Bảo N và Nguyễn Đắc Duy H1 không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ