vanban.org

Bản án 257/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trịnh Phi H 16 (mười sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2021/HSST
Ngày 24 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Bích Liên

2. Bà Lương Thị Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, Tòa án nhân dân quận B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 218/2021/TL - HSST ngày 08 tháng 11 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 364/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với:

Bị cáo Trịnh Phi H (tên gọi khác Trần Mạnh H); sinh năm: 1974; Hộ khẩu thường trú: phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai và nơi ở: phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; Nghề Nghiệp: Không. Văn hóa: 10/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Trịnh Quang V (đã chết); Họ và tên mẹ: Hà Thị Đ, sinh năm: 1947; Gia đình bị cáo có 02 chị em, cáo là con thứ hai. Họ và tên vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2003; Nhân thân có 03 tiền án: Ngày 12/3/1997, Toà án nhân dân thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phí ngày 29/4/1997, ra trại năm 1997; Ngày 09/8/1999, Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xử 4 (bốn) năm tù về tội Trộm cắp tài sản tài sản và 01 (một) năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 05 năm tù. Chấp hành xong án phí HSST ngày 01/12/1999; miễn thi hành án phí DSST và phạt tiền; Ra trại ngày 30/01/2003; Ngày 04/11/2009, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phí ngày 24/3/2010; ra trại ngày 21/01/2010. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/5/2021. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại trại tạm giam số 1– Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 17/05/2021 tại khu vực ngã tư phố Hoàng Diệu giao cắt phố Cao Bá Quát, phường Điện Biên, quận B, thành phố H, Tổ công tác Công an phường Điện Biên dừng chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29T1- 957.39 do Nguyễn Tùng L (sinh năm 1974, địa chỉ: thị trấn Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn) điều khiển chở Trịnh Phi H để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ của Nguyễn Phi H 01 ví cầm tay giả da màu đen bên trong có 01 súng tự chế dạng bút viết bằng kim loại (bên trong súng có 01 viên đạn bằng kim loại) và 01 túi nilon màu xanh bên trong có 04 mảnh thể rắn màu đen, H khai là “sái thuốc phiện” mua về để sử dụng nên tổ công tác đã đưa H và Lâm về trụ sở để giải quyết.

* Vật chứng thu giữ: 01 súng tự chế dạng bút viết bằng kim loại, bên trong súng có 01 viên đạn bằng kim loại; 01 túi nilon màu xanh bên trong có 04 mảnh thể rắn màu đen; 01 ĐTDĐ Oppo màu xanh (IMEI 1: 863851048594396, IMEI 2: 863851048594388, Sim: 0836051111); 01 ví cầm tay giả da màu đen.

Tại Bản kết luận giám định số 3805/C09-P3 ngày 27/5/2021 của Viện khoa học Hình sự - Bộ Công an kết luận: “01 vật bằng kim loại gửi giám định là súng bút tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm thuộc vũ khí quân dụng; 01 viên đạn gửi giám định là đạn cỡ 5,6x15,5mm thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng và sử dụng lắp, bắn được bằng khẩu súng bút nêu trên”.

Tại Bản kết luận giám định số 4027/KLGĐ-PC09 ngày 24/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố H kết luận: “04 mảnh màu đen bên trong 01 túi nilon màu xanh có ma tuý loại Heroine và Thuốc phiện, khối lượng 13,149 gam.”.

Tại Bản kết luận giám định số 4720/C09-TT2 ngày 10/6/2021 của Viện khoa học Hình sự - Bộ Công an kết luận: “Hàm lượng Heroine và Morphine trong mẫu gửi giám định lần lượt là 0,06% và 0,42%. Với khổi lượng mẫu là 13,149 gam thì khối lượng Heroine và Thuốc phiện trong mẫu lần lượt là 0,007 gam và 0,552 gam”.

Tại Công văn số 2636 ngày 10/9/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giải thích kết luận giám định: “Trong mẫu gửi giám định tại PC09, ngoài Heroine và các chất là hoạt chất chính có trong Thuốc phiện thì không còn chất ma túy nào khác”.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Phi H khai: Ngày 16/05/2021, H từ Yên Bái đưa bạn gái là Nguyễn Thị L (sinh năm 1983, địa chỉ: huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái) về H để nhập viện Bệnh viện phụ sản trung ương. Do bản thân nghiện thuốc phiện nên khoảng 08 giờ ngày 17/05/2021, H đi đến khu vực quán nước trước cổng bến xe Mỹ Đình gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi sái thuốc phiện với giá 200.000 đồng, sau đó người này có mời H mua 01 khẩu súng bút (bên trong có 01 viên đạn) với giá 500.000 đồng nên H mua để phòng thân. Sau đó H cất túi ma tuý và khẩu súng vào trong ví da cầm tay rồi đi về Bệnh viện phụ sản. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Tùng L đến Bệnh viện phụ sản để đưa H đi chơi. Khi H và L đi đến khu vực ngã tư phố Hoàng Diệu giao cắt phố Cao Bá Quát thì bị Cơ quan công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng. Việc H tàng trữ thuốc phiện và súng tự chế Lâm không biết.

Lời khai nhận của H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Tùng L, quá trình điều tra xác định L không biết việc Trịnh Phi H tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma tuý và súng bút tự chế cho Trịnh Phi H, do H khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 29/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Trịnh Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 17 giờ ngày 17/05/2021, tại khu vực ngã tư phố Hoàng Diệu giao cắt phố Cao Bá Quát, phường Điện Biên, quận B, thành phố H, Trịnh Phi H có hành vi tàng trữ trái phép 01 súng bút tự chế (thuộc vũ khí quân dụng), 01 viên đạn bằng kim loại và 01 túi chứa Heroine và Thuốc phiện, khối lượng 13,149 gam mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường Điện Biên kiểm tra hành chính, bắt quả tang cùng vật chứng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trịnh Phi H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 đến 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 12 đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 2 tội là từ 28 đến 38 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì bằng giấy dán kín được niêm phong bởi các chữ ký họ và tên Hoàng Thế T, chữ ký và họ tên Trịnh Ngọc H và 04 dấu tròn của Viện khoa học hình sự; 01 (một) ví cầm tay giả da màu đen đã qua sử dụng theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B;

- Giao Ban chỉ huy quân sự quận B, thành phố H: 01 (một) khẩu súng bút tự chế dài 11 cm được đựng trong túi niêm phong mã số NS4A080163 có đóng dấu Viện khoa học hình sự, có chữ ký họ tên Hà Giang C, chữ ký, họ tên Trịnh Ngọc H hiện đang được lưu giữ tại Công an thành phố H theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/7/2021 để xử lý theo thẩm quyền.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh, Imei 1: 863851048594396, Imei 2: 863851048594381 đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Phi H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 17 giờ ngày 17/05/2021 tại khu vực ngã tư phố Hoàng Diệu giao cắt phố Cao Bá Quát, phường Điện Biên, quận B, thành phố H, Tổ công tác Công an phường Điện Biên dừng chiếc xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29T1-957.39 do Nguyễn Tùng Lâm (sinh năm 1974, địa chỉ: thị trấn Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn) điều khiển chở Trịnh Phi H để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ của Trịnh Phi H 01 ví cầm tay giả da màu đen bên trong có 01 súng tự chế dạng bút viết bằng kim loại (bên trong súng có 01 viên đạn bằng kim loại) và 01 túi nilon màu xanh bên trong có 04 mảnh thể rắn màu đen, H khai là “sái thuốc phiện” mua về để sử dụng nên tổ công tác đã đưa H và L về trụ sở để giải quyết.

Hành vi của bị cáo là hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra, khi kiểm tra hành chính cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo 01 súng tự chế, đây là hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào các quy định độc quyền của Nhà nước về chế tạo, quản lý vũ khí quân dụng, đồng thời xâm phạm đến việc bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma túy là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Phi H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trịnh Phi H cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015. Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trịnh Phi H không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, lượng ma túy bị cáo tàng trữ khi giám định thành phần là thuốc phiện và heroin được bị cáo mua với giá 200.000 đồng, theo nguyên tắc tính có lợi cho bị cáo thì lượng ma túy thu giữ của bị cáo có hàm lượng chất gây nghiện thấp. Bị cáo có 3 tiền án tính đến lần phạm tội này đã được xóa án tích, thời gian phạm tội đã lâu, đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s Khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân người phạm tội: Là thanh niên đang trong độ tuổi lao động nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức nên đã đi vào con đường phạm tội.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trịnh Phi H không có đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường, mà cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 đến 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 12 đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 2 tội là từ 28 đến 38 tháng tù là có căn cứ; Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn.

Bị cáo Trịnh Phi H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung– phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trịnh Phi H đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì bằng giấy dán kín được niêm phong bởi các chữ ký họ và tên Hoàng Thế T, chữ ký và họ tên Trịnh Ngọc H và 04 dấu tròn của Viện khoa học hình sự; 01 (một) ví cầm tay giả da màu đen đã qua sử dụng theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B;

- Giao Ban chỉ huy quân sự quận B, thành phố H: 01 (một) khẩu súng bút tự chế dài 11 cm được đựng trong túi niêm phong mã số NS4A080163 có đóng dấu Viện khoa học hình sự, có chữ ký họ tên Hà Giang C, chữ ký, họ tên Trịnh Ngọc H hiện đang được lưu giữ tại Công an thành phố H theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/7/2021 để xử lý theo thẩm quyền.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh, Imei 1: 863851048594396, Imei 2: 863851048594381 đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm i Khoản 1 Điều 249; Khoản 1 Điều 304; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

- Tuyên bố bị cáo Trịnh Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Trịnh Phi H 16 (mười sáu) tháng tù.

- Tuyên bố bị cáo Trịnh Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

- Xử phạt bị cáo Trịnh Phi H 12 (mười hai) tháng tù.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự 2015.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trịnh Phi H chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2021.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 66 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì bằng giấy dán kín được niêm phong bởi các chữ ký họ và tên Hoàng Thế T, chữ ký và họ tên Trịnh Ngọc Hoàng và 04 dấu tròn của Viện khoa học hình sự; 01 (một) ví cầm tay giả da màu đen đã qua sử dụng theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B;

- Giao Ban chỉ huy quân sự quận B, thành phố H: 01 (một) khẩu súng bút tự chế dài 11 cm được đựng trong túi niêm phong mã số NS4A080163 có đóng dấu Viện khoa học hình sự, có chữ ký họ tên Hà Giang C, chữ ký, họ tên Trịnh Ngọc H hiện đang được lưu giữ tại Công an thành phố H theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/7/2021 để xử lý theo thẩm quyền.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh, Imei 1: 863851048594396, Imei 2: 863851048594381 đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Trịnh Phi H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1,4 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày 24 tháng 11 năm 2021.

Cỡ chữ