- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Kim A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 257/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25-5-2021 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Ngọc Minh;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 04 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim A, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ 21, xã Cẩm Long, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin xét xử vắng mặt;
2. Bị đơn: Ông Trần Vĩnh B, sinh năm 1994; địa chỉ: Số XXX đường Hòa Bình, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nhận ngày 07/09/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Kim A trình bày:
Bà Võ Thị Kim A và ông Trần Vĩnh B là vợ chồng hợp pháp chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2016 do Uỷ ban nhân dân Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/01/2016. Vợ chồng chung sống có 01 con chung là Trần Gia C (nam, sinh ngày 15/12/2015).
Trong quá trình chung sống, bà A và ông B phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống cả về kinh tế và tình cảm. Nguyên nhân do thời gian hai bên tìm hiểu nhau rất ngắn, nên không hiểu rõ tính cách và quan điểm sống lẫn nhau, bất đồng quan điểm về nhiều mặt. Ông B không chăm lo cho gia đình, vợ con, lại thường xuyên nhậu nhẹt, đánh mắng bà A. Ông B không tôn trọng bà A và gia đình vợ, bà A đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông B vẫn không thay đổi. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ cãi nhau, mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được, nên bà A và con dọn ra ở riêng. Hai bên đã tự sống ly thân đến nay khoảng hơn 01 năm. Trong thời gian ly thân, ông B không qua lại thăm hỏi, không phụ giúp nuôi con và không cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Nay bà A nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, không hàn gắn được, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa. Bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Toà án nhân dân Quận M giải quyết cho ly hôn với ông B để sớm ổn định cuộc sống, lo cho con.
- Về con chung: Có 01 con chung là Trần Gia C (nam, sinh ngày 15/12/2015). Bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, do con chung từ nhỏ đã do bà A tự chăm sóc và nuôi dưỡng. Bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định trong quá trình chung sống bà A và ông B không có tài sản chung, không có nợ chung. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Ngày 19/04/2021 bà Võ Thị Kim A có nộp Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án. Bà A vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong Đơn khởi kiện và xin C lưu ý kiến của bà đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
* Đối với bị đơn ông Trần Vĩnh B:
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân Quận M đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông Trần Vĩnh B nhưng ông B không đến Toà án giải quyết. Do đó, Toà án không thể tiến hành lấy lời khai, hoà giải đối với bị đơn được. Tại phiên tòa ông B cũng vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận M có ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau: “Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên Thẩm phán chưa đảm C thời hạn chuẩn bị xét xử, chậm giao Quyết định hoãn phiên tòa cho Viện kiểm sát nhân dân Quận M theo quy định tại Điều 203 và khoản 3 Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Vĩnh B; Đề nghị giao bà A được trực tiếp nuôi con chung là Trần Gia C và không có yêu cầu ông Lộc cấp dưỡng; Tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các Biên bản lời khai đã thể hiện, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng :
* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Võ Thị Kim A và ông Trần Vĩnh B chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà A xin ly hôn với ông B, bị đơn có nơi cư trú tại Quận M nên Tòa án nhân dân Quận M thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định pháp luật tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019).
* Về người tham gia tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Trần Vĩnh B nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, ngày 19/04/2021 nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019).
Về yêu cầu của các đương sự:
* Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Kim A:
Bà Võ Thị Kim A và ông Trần Vĩnh B tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn được Uỷ ban nhân dân Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/01/2016. Quan hệ hôn nhân của ông B và bà A là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và C vệ.
Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà A và ông B đã phát sinh từ lâu, nguyên nhân chủ yếu cả hai bất đồng nhiều mặt trong cuộc sống cả về kinh tế và tình cảm. Mâu thuẫn kéo dài không thể giải quyết được, nên cả hai sống ly thân đã hơn một năm nay vẫn không hàn gắn được. Trong thời gian ly thân, ông B không qua lại thăm hỏi, không phụ nuôi con. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cả hai không còn liên hệ nhau về kinh tế và tình cảm và cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hòa giải với nhau để đoàn tụ gia đình. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo cho ông B đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông B đều vắng mặt không lý do, thể hiện ông B không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ vào những nhận định nêu trên và căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định: “…khi tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Vĩnh B.
* Về con chung: Có 01 con chung là Trần Gia C (nam, sinh ngày 15/12/2015). Bà A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Gia C, Bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Trẻ C từ nhỏ đã do bà A tự chăm sóc và nuôi dưỡng. Căn cứ kết quả xác minh ngày 16/12/2020 của Công an Phường N, Quận M: Con chung hiện do bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Xét để đảm C quyền B tốt nhất cho trẻ C nên trao quyền nuôi dưỡng cho bà A.
* Về tài sản chung và nợ chung: Bà A xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ghi nhận lời khai của bà A, xác định bà và ông B không có tài sản chung và nợ chung. Trường hợp sau này nếu các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí:
Bà Võ Thị Kim A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019) và theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019);
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Kim A.
Bà Võ Thị Kim A được ly hôn với ông Trần Vĩnh B.
2. Về con chung: Bà Võ Thị Kim A được quyền nuôi dưỡng con chung là Trần Gia C (nam, sinh ngày 15/12/2015). Ghi nhận sự tự nguyện của bà A không yêu cầu ông Trần Vĩnh B cấp dưỡng tiền nuôi con.
Ông Trần Vĩnh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì B ích của con, việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Án phí: Bà Võ Thị Kim A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà A đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0015776 ngày 15/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà A đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Kim A và ông Trần Vĩnh B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - UBND Phường 7, Quận 11; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mỹ Duyên |