vanban.org

Bản án 257/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 12/4/2019. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Trung T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2019/HS-ST
Ngày 29 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 224/2019/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2019/HSST-QĐ ngày 15/8/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung T, sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thư ng trú: 42/17A Phư ng 1 Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 và con bà Trần Thị L, sinh năm 1960; bị cáo có vợ Lý Thị H, sinh năm 1990; tiền sự, tiền án: Kh ng có.

Nhân thân: Ngày 04/6/2015, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định số 73/2015/QĐ-TA về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc th i hạn 12 tháng, ngày 01/5/2016 chấp hành xong quyết định.

Bị bắt tạm giam ngày 12/4/2019, có m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; thư ng trú: Ấp 3, thị trấn L, Thành phố T, tỉnh Sóc Trăng, vắng m t.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn V, vắng m t

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/4/2019, bị cáo Nguyễn Trung T được một ngư i nghiện ma túy hỏi mua 03 liều ma túy (Heroine) giá 900.000 đồng, T hẹn giao tại khu vực ngã ba cây Điệp, phư ng Tân Đ ng Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Sau đó T điều khiển xe m t biển số 83S5 – 5160 đến quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh g p Lâm (không rõ nhân thân) mua 03 gói Heroine giá 600.000 đồng và điều khiển xe về Dĩ An giao ma túy, khi lưu th ng đến trước số nhà 135 đư ng Đỗ Tấn Phong thuộc khu phố Đ ng Thành, phư ng Tân Đ ng Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị C ng an phư ng Tân Đ ng Hiệp dừng xe kiểm tra hành chính thu giữ ma túy từ T và lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (T khai nhận mua từ Lâm ngày 11/4/2019); 03 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng; 01 xe mô tô Airblade màu đỏ đen biển số 83S5 – 5160; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 có sim số 0904.836.743 và 093.753.3082 (qua kiểm tra điện thoại kh ng có nhật ký, nhắn tin cuộc gọi đi và đến).

Vật chứng đã xử lý: Xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đỏ đen biển số 83S5 – 5160 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị T, bà T cho T mượn và kh ng biết T sử dụng xe vào việc phạm tội. C ng an thị xã Dĩ An đã trả lại xe cho bà T.

Kết luận giám định số 307/MT-PC09 ngày 16/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận :

- Mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,6792 gam (ký hiệu M1), loại Heoroine.

- Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,3888 gam (ký hiệu M2), loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 245/CT - VKS – DA ngày 10/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 2 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ còn lại sau giám định, sim điện thoại di động mang số 0904.836.743 và 093.753.3082. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động hiệu Samsung J7.

Bị cáo T kh ng tranh luận, kh ng bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T kh ng nói l i sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Chứng cứ xác định có tội của bị cáo: Biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang ngày 12/4/2019, l i khai ngư i làm chứng, biên bản lấy l i khai, quá trình tranh tụng tại phiên tòa thể hiện, bị cáo Nguyễn Trung T sử dụng ma túy, ngày 12/4/2019 T mang theo ma túy lưu th ng trên đư ng thì bị bắt giữ. Kết quả giám định ma túy thu giữ từ T có khối lượng 0,6792 gam loại Heroine; 2,3888 gam loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 9 Nghị định 73/2018/CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Như vậy, hành vi trên của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 245/CT-VKS ngày 10/7/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu thể hiện việc kh ng có nghề nghiệp ổn định, bị cáo đã bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, lần phạm tội này của bị cáo thể hiện sự kh ng hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo T phạm tội thuộc trư ng hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 05 năm tù, bị cáo là ngư i có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T mức án tù có th i hạn tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngư i c ng dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy, sim điện thoại cần tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động hiệu Samsung J7 cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Đối với mức hình phạt bị cáo T có phần nhẹ kh ng tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xử phạt mức án bị cáo T cao hơn so mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 12/4/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy một bì thư đã niêm phong số 307/PC09 bên trong chứa chất màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, Heroine, khối lượng hoàn lại sau khi giám định 0,6250 gam (M1); 2,0677 gam (M2), sim số điện thoại 0904.836.743 và sim số 0937.533.082

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung j7.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thư ng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

Cỡ chữ