vanban.org

Bản án 257/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh S phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.

/ Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh S 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 19/5/2019. / Về vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ MINH S - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh S phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 257/2019/HS-ST
Ngày: 25-11-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Hùng Dương;

2/ Ông Phạm Văn Lâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hai – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương mở phiên t a x t xử c ng khai vụ án h nh sự sơ th m thụ lý số 251/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số 280/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Minh S (tên gọi khác T), sinh năm 1991. tại: B. Nơi ĐKHKTT: Số 1/183, khu phố H, phường T, thị xã T, t nh B. Nghề nghiệp: Công nhân; tr nh độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh N (đã chết) và bà Trương Thị V.

Tiền án:

- Ngày 12/12/2012, T a án nhân dân huyện Tân Thành, t nh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án h nh sự sơ th m số 125/2012/HSST.

- Ngày 02/5/2013, T a án nhân dân thị xã Thuận An, t nh B nh Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp h nh phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án h nh sự sơ th m số 125/2012/HSST của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, t nh Bà Rịa – Vũng Tàu. Buộc bị cáo chấp hành h nh phạt chung của 02 bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù theo Bản án h nh sự sơ th m số 122/2013/HSST.

- Ngày 20/9/2018, T a án nhân dân thị xã Thuận An, t nh B nh Dương xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án h nh sự sơ th m số 168/2018/HSST (tái phạm).

Tiền sự: Kh ng. Bị cáo bị bắt từ ngày 19/5/2019 và tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên t a.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị V, sinh năm 1956; địa ch : 1/183 khu phố H a Lân 1, phường T, thị xã T, t nh B. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Nguyễn Viết T. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 19/5/2019, trong lúc Đỗ Minh S đang ở nhà tại số 1/183, khu phố H, phường T, thị xã T, t nh B th Sơn nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng nên S điều khiển xe m t hiệu Yamaha Sirius, biển số 61C1 - 484.XX đi đến căn nhà hoang (Kh ng có địa ch cụ thể) ở khu vực nghĩa trang Đồng Sến thuộc xã Tân Thạnh Đ ng, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để t m mua ma túy. Khi đến căn nhà hoang, S lấy số tiền 400.000 (Bốn trăm ngh n) đồng đưa qua một khe cửa sổ của căn nhà hoang th lúc này bên trong có người đưa ra cho S 02 (Hai) gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa chất ma túy. Liền đó, S cầm 02 (Hai) gói ma túy trên tay trái, rồi điều khiển xe m t biển số 61C1 - 484.XX đi về nhà để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày 19/5/2019, khi S điều khiển xe m t biển số 61C1 - 484.XX đi đến bến đ Bà Lụa, thuộc khu 6, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương th bị Ph ng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an t nh B nh Dương phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Thủ Dầu Một và C ng an phường Phú Thọ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đỗ Minh S đang có hành vi Tàng trữ trái ph p 02 (Hai) gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (Sơn đang cầm trên tay trái). Lực lượng C ng an thu giữ các vật chứng gồm: 02 (Hai) gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (Một) xe m t hiệu Yamaha Sirius, biển số 61C1 - 484.XX; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu hồng.

Căn cứ Kết luận giám định số 394/MT-PC09 ngày 24/5/2019 của Ph ng Kỹ thuật h nh sự C ng an t nh B nh Dương kết luận: 02 (Hai) gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong b thư có chữ ký người bị bắt Đỗ Minh S, cán bộ niêm phong Nguyễn Hoàng Đ và h nh dấu đỏ của C ng an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương là ma túy loại Heroine, có khối lượng: 0,4858 gam.

Đối với đối tượng (Kh ng r nhân thân, lai lịch) đã có hành vi bán trái ph p chất ma túy cho Đỗ Minh S. Quá tr nh điều tra xác định: Do trước đó, S được bạn bè giới thiệu ở căn nhà hoang tại khu vực nghĩa trang Đồng Sến thuộc xã Tân Thạnh Đ ng, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh có người bán ma túy, bằng cách đưa tiền qua khe cửa sổ th bên trong có người bán ma túy và đưa qua khe cửa sổ. Do S kh ng biết r nhân thân, lai lịch đối tượng bán trái ph p chất ma túy cho S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an thành phố Thủ Dầu Một s tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với 01 (Một) xe m t hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ – đen, biển số 61C1 - 484.XX do Đỗ Minh S sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá tr nh điều tra xác định: Xe m t trên do bà Trương Thị V, sinh năm 1956, địa ch : số 1/183, khu phố H, phường T, thị xã T, t nh B (Bà V là mẹ ruột của Đỗ Minh S) đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe m t . Ngày 19/5/2019, bà V cho S mượn xe m t biển số 61C1 - 484.XX để đi làm. Việc S sử dụng xe m t hiệu Yamaha Sirius, biển số 61C1

- 484.XX của bà V để làm phương tiện phạm tội bà V kh ng biết. Ngày 20/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C ng an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử lý vật chứng số 153 giao trả xe m nêu trên cho bà Trương Thị V. Hiện tại, bà V không có yêu cầu g đối với Đỗ Minh S, nên kh ng đặt ra xem x t, giải quyết.

Đối với 02 (Hai) gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Heroine, có khối lượng sau giám định là: 0,4596 gam, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng x t xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu hồng thu giữ của Đỗ Minh S kh ng liên quan đến vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng x t xử tuyên trả cho Đỗ Minh S.

Cáo trạng số 272/CT-VKS-HS ngày 28/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Đỗ Minh S về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Minh S đồng thời đề nghị Hội đồng x t xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức h nh phạt từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng x t xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) b thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Đỗ Minh S, cán bộ niêm phong Nguyễn Hoàng Đ và h nh dấu đỏ c ng an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, bên trong chứa 02 gói nylon chứa ma túy, tổng trọng lượng sau giám định 0,4596gam theo kết luận giám định số 394/MT-PC09 ngày 24/5/2019 là tang vật của vụ án.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Minh S 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Iphone 6s màu hồng do kh ng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của m nh, mong Hội đồng x t xử xem x t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá tr nh khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên t a, kh ng ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên t a, bị cáo Đỗ Minh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 19/5/2019, Đỗ Minh S đã có hành vi tàng trữ trái ph p 0,4858 gam ma túy loại Heroine tại khu vực bến đò Bà Lụa, thuộc khu 6, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, t nh B nh Dương nhằm mục đích sử dụng th bị Ph ng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - C ng an t nh Bình Dương phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - C ng an thành phố Thủ Dầu Một và C ng an phường Phú Thọ bắt quả tang nên hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật H nh sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, t nh h nh nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm h nh sự khác. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án và chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật do vậy đối với bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành c ng dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và ph ng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

T nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Không có.

T nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Trong quá tr nh điều tra cũng như tại phiên t a, bị cáo có thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh. Đây là t nh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật H nh sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như t nh tiết giảm nhẹ, x t mức h nh phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng x t xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) b thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Đỗ Minh S, cán bộ niêm phong Nguyễn Hoàng Đức và h nh dấu đỏ c ng an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, bên trong chứa 02 gói nylon chứa ma túy tổng trọng lượng sau giám định 0,4596gam theo kết luận giám định số 394/MT-PC09 ngày 24/5/2019 là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Iphone 6s màu hồng do kh ng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Án phí sơ th m: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật H nh sự; các Điều 106, 136, 260, 333 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh S phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”.

1./ Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Minh S 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 19/5/2019.

2./ Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) b thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Đỗ Minh S, cán bộ niêm phong Nguyễn Hoàng Đ và h nh dấu đỏ c ng an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, bên trong chứa 02 gói nylon chứa ma túy, tổng trọng lượng sau giám định 0,4596gam theo kết luận giám định số 394/MT-PC09 ngày 24/5/2019.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ Minh S 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Iphone 6s màu hồng (kh ng kiểm tra chi tiết, t nh trạng hoạt động).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 029.20 ngày 30/10/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3./ Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Minh S phải nộp 200.000đ (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh sự sơ th m.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết c ng khai.

Cỡ chữ