vanban.org

Bản án 2560/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC).

Buộc bị đơn – ông Võ TT phải trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC) số tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 ngày 28/11/2019 tổng cộng là 42.616.619đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm mười sáu ngàn sáu trăm mười chín đồng), t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng Dân sự đây
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2560/2022/DS-ST
Ngày: 30-12-2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký phiên toà:

Bà Phạm Thị Mỹ Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên toà:

Bà Đỗ Lê Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1396/TLST-DS ngày 07/7/2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 589/2022/QĐXXST-DS ngày 24/11/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 387/2022/QĐST-DS ngày 12/12/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC)

Trụ sở: Tầng M, Tòa nhà REE Tower, số 9 Đoàn Văn Bơ, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lưu Hoàng Phúc Trí – đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 02 ngày 14/6/2022)

Bị đơn : Ông Võ TT, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: 76/58 đường Bạch Đằng, Phường 24, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/6/2022, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ký kết hợp đồng:

Ngày 28/11/2019, ông Võ TT và Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC) có ký kết Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 vay số tiền vốn 32.250.000đồng với lãi suất thỏa thuận là 3.92%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 24 tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ông Thanh có trách nhiệm thanh toán số tiền tổng cộng cả vốn và lãi là 51.040.571đồng trong vòng 24 tháng, 23 tháng đầu mỗi tháng thanh toán số tiền 2.096.988đồng, tháng cuối cùng thanh toán số tiền 2.809.847đồng. Bắt đầu thanh toán kỳ đầu tiên vào ngày 05/01/2020.

Thực hiện hợp đồng:

Sau khi được giải ngân số tiền vốn 32.250.000đồng, ông Thanh đã thanh toán cho nguyên đơn được 04 kỳ với tổng số tiền là 8.423.952 đồng. Từ ngày 06/4/2020 đến nay ông Thanh ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào khác cho phía nguyên đơn mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện để cho ông Thanh trả nợ.

Yêu cầu đòi nợ:

Nay Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ TT thanh toán toàn bộ tiền nợ tổng cộng là 42.616.619đồng, trong đó bao gồm 29.042.983đồng tiền nợ gốc và tiền lãi là 13.573.636 đồng.

Bị đơn – ông Võ TT: Tại bản tự khai ngày 20/9/2022 ông Thanh thừa nhận có ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 vay số tiền vốn 32.250.000đồng với lãi suất thỏa thuận là 3.92%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 24 tháng giống như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Đồng thời ông cũng thừa nhận từ khi giải ngân đến nay, ông chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 04 kỳ với tổng cộng là 8.423.952 đồng. Sau đó do ông gặp khó khăn về tài chính, công việc không ổn định nên không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Nay nguyên đơn khởi kiện, ông xin được trả số tiền nợ gốc là 29.042.983đồng, còn tiền lãi ông xin nguyên đơn xem xét cho ông được miễn trả tiền lãi.

Sau khi làm bản tự khai, ông Thanh đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật đối với ông Thanh.

Tại phiên toà:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn – ông Võ TT thanh toán toàn bộ tiền nợ tổng cộng là 42.616.619đồng, trong đó bao gồm 29.042.983đồng tiền nợ gốc và tiền lãi là 13.573.636 đồng.

Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 14/9/2022 và lúc 10 giờ 00 phút ngày 22/11/2022, nhưng do ông Thanh vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không có ý kiến phát biểu tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết, xác định vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, việc gửi, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của Điều 51 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC) và ông Võ TT là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – ông Võ TT đã khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số 76/58 Bạch Đằng, Phường 24, quận B. Đồng thời tại bản tự khai của ông Thanh ngày 20/9/2022, ông Thanh cũng xác nhận ông đang thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 02/8/2022 của Công an Phường 24, quận B xác định ông Võ TT có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B.

. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 12/12/2022 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 30/12/2022 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn - ông Võ TT thanh toán số tiền nợ gốc là 29.042.983đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 ngày 28/11/2019; Bảng kế hoạch trả nợ; Bảng kê lịch sử thanh toán; bản tự khai của bị đơn ngày 20/9/2022 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã cho bị đơn vay tín chấp số tiền vốn 32.250.000 đồng. Sau khi được giải ngân số tiền vay trên, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn được 04 kỳ nợ gốc với số tiền là 3.207.017 đồng. Từ tháng 06/4/2020 đến nay, bị đơn đã ngưng không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ. Ngày 06/12/2021, khoản vay của bị đơn đã hết thời hạn 24 tháng như đã thỏa thuận trong hợp đồng và việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc phát sinh từ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 ngày 28/11/2019 là đúng với quy định tại các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn yêu cầu bị đơn - ông Võ TT thanh toán tiền lãi 13.573.636 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 ngày 28/11/2019 các bên đã thống nhất với nhau về thời hạn thanh toán, mức tính lãi suất, nên việc ông Thanh không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian, mức tính lãi suất và phí mà nguyên đơn đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên tại Điều 10 phần phê duyệt của VPBFC của Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 ; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, yêu cầu về thanh toán tiền lãi của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

Trong khi đó, bị đơn chỉ có mặt 01 lần tại Tòa án để làm bản tự khai, sau đó thì vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để tự bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền tổng cộng là 42.616.619đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm mười sáu ngàn sáu trăm mười chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 29.042.983 đồng và 13.573.636đồng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B.

.Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC).

Buộc bị đơn – ông Võ TT phải trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC) số tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20191129-3925990 ngày 28/11/2019 tổng cộng là 42.616.619đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm mười sáu ngàn sáu trăm mười chín đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc 29.042.983 đồng và 13.573.636đồng.

Thời hạn thi hành: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 2.130.831đồng (Hai triệu một trăm ba mươi ngàn tám trăm ba mươi mốt đồng) ông Võ TT phải nộp toàn bộ.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 1.065.000đồng (Một triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC), theo biên lai thu số 0050100 ngày 01/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B.

3. Quyền kháng cáo:

Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (SMBC) được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Võ TT được quyền kháng cào trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ