vanban.org

Bản án 256/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 11/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 01(một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho bị cáo được hưởng án theo thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Mạnh C cho Uỷ ban nhân dân phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 15 Luật giao thông đường bộ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2022/HS-PT
Ngày: 11/07/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương

Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung

Bà Phạm Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh – Thư ký T a án tỉnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 219/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C, do có kháng cáo của bị cáo C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 161/2022/HS-ST ngày 21/04/2022 của T a án nhân dân thành phố Biên H a. Theo quyết định xét xử phúc thẩm số 237/2022/QĐXXPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022.

Bị cáo kháng cáo Nguyễn Mạnh C; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1972; tại Đồng Nai; Nơi đăng ký HKTT: phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Nghề nghiệp: tài xế; Chức vụ: Không; Có cha là Nguyễn S, không rõ năm sinh (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị T, sinh năm: 1946 (đã chết); Có vợ là Trần Thị Phương Th, sinh năm: 1972; Có 02 con, lớn sinh năm: 2000; nhỏ sinh năm: 2016.

Tiền án, tiền sự: không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quyết định số 408/LCĐKNCT ngày 08 tháng 04 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Bị hại: ông Trương Phi H, sinh năm: 1965. Địa chỉ: huyện V, tỉnh Đồng Nai (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Tô Hoàng Y, sinh năm: 1966. Địa chỉ: phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH P.

Địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Bị cáo C có mặt, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại bà Tô Hoàng Y, bị đơn dân sự Công ty TNHH P nhưng không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Mạnh C có giấy phép lái xe ô tô hạng E (Bút lục số 69), là lái xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn P(địa chỉ phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) theo hợp đồng lao động số 02/HĐLĐ-PH/2021 ngày 01/3/2021.

Vào khoảng 08 giờ 08 phút ngày 04/6/2021, C điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60S-8370, có tải trọng 11.100kg thuộc sở hữu của Công ty P lưu thông trên đường E6 thuộc khu dân cư Bửu Long 3. Khi đến ngã ba giao nhau giữa đường E6 (đường không ưu tiên) với đường N (đường ưu tiên) thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, C điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60S-8370 chuyển hướng rẽ trái từ đường E6 đi vào đường Nguyễn Du. Do C điều khiển xe ô tô đến khu vực giao nhau không chú ý quan sát tình trạng giao thông phía bên trái, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho phương tiện đi đến từ đường ưu tiên nên đã để mặt ngoài bánh trước bên trái của xe ô tô do C điều khiển va chạm vào vè chắn bùn bánh trước bên trái của xe mô tô biển số 60H6-7729 do ông Trương Phi H (sinh năm 1965, thường trú tại huyện V, tỉnh Đồng Nai) điều khiển lưu thông trên đường N theo hướng từ địa điểm Văn Miếu Trấn Biên đi về hướng đường Nguyễn Ái Quốc chạy tới gây tai nạn. Hậu quả làm ông H bị thương nặng sau đó tử vong tại Bệnh viên đa khoa Đồng Nai.

Quá trình điều tra, Nguyễn Mạnh C khai nhận hành vi phạm tội như trên.

*Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông ngày 04/6/2021 của Công an thành phố Biên Hòa đã xác định được vị trí, kích thước, chiều hướng dấu vết như sau: Tất cả các dấu vết, phương tiện được đo vào mép đường bên trái (gọi tắt là lề trái) đường Nguyễn Du theo hướng Văn Miếu Trấn Biên đi hướng đường Nguyễn Ái Quốc.

- Về hiện trạng đoạn đường nơi xảy ra tai nạn:

+ Đoạn đường xảy ra tai nạn thuộc ngã 3 giao nhau giữa đường Nguyễn Du với đường E6 – khu dân cư Bửu Long 3, mặt đường trải nhựa bằng phẳng; mặt đường E6 hướng từ khu dân cư Bửu Long đi về hướng đường Nguyễn Du rộng 13m15, được chia làm 02 chiều lưu thông và trên lề phải có biển báo hiệu giao thông đường bộ số W208 (giao nhau với đường ưu tiên).

+ Đường Nguyễn Du tổ chức xe lưu thông hai chiều, mặt đường rộng 06 mét 60, giữa đường có vạch sơn đứt quãng phân chia chiều đường, chiều đường Văn Miếu Trấn Biên đi ra đường Nguyễn Ái Quốc rộng 03 mét 55, chiều đường ngược lại rộng 03 mét 05. Khu vực xảy ra tai tai nạn có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, hai bên đường không có nhà dân sinh sống.

- Kí hiệu số 1 (Vị trí xe ô tô tải ben biển số 60S-8370): Xe ô tô dừng lại trên mặt đường sau tai nạn. Đầu xe hướng chếch vào lề trái, đuôi xe hướng chếch vào lề phải đường Nguyễn Du. Trục bánh xe trước bên phải cách lề trái là 01m60 và cách trụ đèn số 51 làm mốc là 14m30. Trục bánh sau bên phải cách lề trái là 03m97.

- Kí hiệu số 2 (Vị trí xe mô tô biển số 60H6-7729): Xe mô tô ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng đi đường Nguyễn Ái Quốc, đuôi xe hướng đi Văn Miếu Trấn Biên. Trục bánh xe trước cách lề trái là 04m83, trục bánh xe sau cách lề trái là 05m09 và cách trục bánh xe trước bên trái của xe ô tô biển số 60S-8370 là 2m20 và cách tâm vết máu nạn nhân (3) là 0m90.

- Kí hiệu số 3 (Vết máu nạn nhân): Vết máu nạn nhân có kích thước 0,45mx0,20m, tâm vết máu cách lề trái là 05m60.

- Kí hiệu 4 (vết phanh của xe mô tô biển số 60H6-7729): Vết phanh xe mô tô biển số 60H6-7729 để lại trên mặt đường, vết phanh màu đen, dài liên tục. Đầu vết phanh đến bánh sau xe mô tô biển số 60H6-7729 có độ dài 08m00 và cách lề trái là 05m10.

* Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 60S-8370 ngày 04/6/2021 của Công an thành phố Biên Hòa ghi nhận như sau:

- Mặt ngoài hông lốp xe phía trước bên trái có vết trượt xước cao su.

- Mặt ngoài vè chắn bùn bánh xe phía trước bên trái của xe ô tô có vết trượt xước nhựa, in dấu vết màu đỏ.

- Mặt ngoài đầu góc cạnh thùng xe phía dưới bên trái có vết chà sạch bụi, dính lông tóc.

- Mặt ngoài bình lọc gió kim loại phía bên trái thân xe có vết trượt xước, dính vết sơn màu đỏ.

- Đầu cản kim loại bên hông trái thùng xe có dính vết sơn màu đỏ.

- Về hệ thống an toàn phương tiện hoạt động bình thường.

* Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 60H6-7729 ngày 04/6/2021 của Công an thành phố Biên Hòa ghi nhận như sau:

- Nắp ốp tay lái trước vị trí góc bên trái cạnh đèn tín hiệu có vết bể vỡ, bung rơi nhựa.

- Gương chiếu hậu bên trái bể vỡ bung rơi khỏi xe.

- Ốp mặt nạ xe bể vỡ bung rơi nhựa.

- Yếm chắn gió bên trái bể vỡ nhựa, bung rơi khỏi xe.

- Vè chắn bùn bánh xe trước bể vỡ nhựa, bung rơi khỏi xe.

- Mặt ngoài ốp gương chiếu hậu bên phải có vết trượt xước nhựa.

- Đầu gác chân trước bên phải có vết trượt xước cao su.

- Về kỹ thuật an toàn phương tiện: Không kiểm tra được hệ thống an toàn kỹ thuật của phương tiện do xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

* Tại Kết luận giám định số 1430/KLGĐ-PC09 ngày 15/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận vị trí dấu vết va chạm, chiều hướng dấu vết, cơ chế hình thành dấu vết giữa các phương tiện xe mô tô biển số 60H6-7729 và xe ô tô biển số 60S-8370 trong quá trình xảy ra tai nạn như sau:

“- Hệ thống dấu vết nứt vỡ, trượt xước, mài mòn tại các chi tiết phía trước bên trái: ốp nhựa đầu xe, ốp mặt nạ, yếm chắn gió, vè chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển số 60H6-7729 có chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, từ trái sang phải, hình thành do quá trình va chạm với các chi tiết bên trái: mặt ngoài bánh trước, cung sau vè chắn bùn bánh trước, mép trước thùng chứa nhiên liệu cùng đầu trước thanh bảo vệ hông xe bên trái của xe ô tô tải ben biển số 60S – 8370;

- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là vè chắn bùn bánh trước của xe mô tô biển số 60H6-7729 và mặt ngoài bánh trước bên trái của xe ô tô tải ben biển số 60S – 8370;

- Cụm dấu vết trượt xước, mài mòn tại đầu tay cầm lái bên phải cùng khung gác chân trước của xe mô tô biển số 60H6-7729 có chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, từ phải sang trái, hình thành do quá trình va chạm với mặt đường khi xe ngã”.

* Tại Kết luận giám định tư pháp số 364/TTĐKXCG ngày 23/11/2021 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở giao thông vận tải Đồng Nai kết luận về vận tốc xe mô tô biển số 60H6-7729 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 04/6/2021 như sau: “Không có cơ sở, căn cứ để xác định được vận tốc của xe mô tô biển số 60H6-7729 trong vụ tai nạn giao thông trên là bao nhiêu”. (Bút lục số 62)

*Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 193 ngày 14/6/2021 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai đã kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Trương Phi H như sau: “Đa chấn thương.

-Chấn thương sọ não gây vỡ lún sọ trán phức tạp có nhiều mảnh sọ rời. Rách màng não. Tụ máu dưới màng cứng trán trái. Dập não trán diện rộng.

- Chấn thương mặt gây gãy xương chính mũi, gãy xương hàm trên và xương g má trái, gãy xương hàm dưới.

- Kết hợp chấn thương gây gãy cổ xương đùi bên trái.”

* Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa thu giữ phương tiện, đồ vật và đã giao trả cho chủ sở hữu, gồm:

- 01 xe ô tô biển số 60S-8370, 01 giấy đăng ký xe ô tô biển số 60S-8370, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 60S-8370 cho Công ty TNHH P là chủ sở hữu (do anh Hoàng Phúc T1 đại diện theo ủy quyền).

- 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E cho bị can Nguyễn Mạnh C.

- 01 xe mô tô biển số 60H6-7729 cho bà Tô Hoàng Y (đại diện gia đình bị hại)

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Mạnh C và Công ty TNHH P đã bồi thường chi phí mai táng và các yêu cầu dân sự khác cho gia đình bị hại với tổng số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại đã bãi nại và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo C.

Bản án hình sự sơ thẩm số 161/2022/HSST ngày 21/04/2022 của T a án nhân dân thành phố Biên H a căn cứ khoản 2 điều 15, khoản 3 điều 24 Luật Giao thông đường bộ; điểm a khoản 1 điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án c n tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 22/4/2022, bị cáo Nguyễn Mạnh C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đã bồi thường cho đại diện bị hại và được đại diện bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại t a hôm nay bị cáo đã khai nhận tội và khẳng định án sơ thẩm xử là đúng không oan sai bị cáo chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo .

- Quan điểm c a Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội, cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là mất an toàn giao thông công cộng,hậu quả gây ra cái chết của bị hại. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, tuy nhiên xét thấy T a án nhân dân thành phố Biên H a đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tuyên bị cáo mức án 01(một) năm tù là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của T a án nhân dân thành phố Biên H a.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo C trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mạnh C thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Thể hiện vào lúc 08 giờ 08 phút, ngày 04/6/2021, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường E6 với đường Nguyễn Du thuộc khu phố 1, phường Bửu Long, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Mạnh C có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, có hành vi điều khiển xe ô tô tải ben biển số 60S-8370 không chú ý quan sát tình trạng giao thông phía bên trái, chuyển hướng rẽ trái từ đường E6 (đường không ưu tiên) vào đường Nguyễn Du (đường ưu tiên) không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho phương tiện đi đến từ đường ưu tiên nên để mặt ngoài bánh trước bên trái của xe ô tô do Cường điều khiển va chạm vào vè chắn bùn bánh trước bên trái của xe mô tô biển số 60H6-7729 do ông Trương Phi H điều khiển lưu thông trên đường Nguyễn Du theo hướng Văn Miếu Trấn Biên đi về hướng đường Nguyễn Ái Quốc gây tai nạn. Hậu quả làm ông H bị thương nặng dẫn tới tử vong.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2, Điều 15, khoản 3, Điều 24 Luật giao thông đường bộ; điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, T a án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Cấp sơ thẩm xét bị cáo 01 năm tù là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự. Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo và sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo nộp giấy xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính gia đình và có 02 em c n nhỏ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.

Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ nếu trên và căn cứ vào Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dân áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3 Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt không phù hợp với nhận định của của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355, điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.

1. Căn cứ khoản 2, Điều 15, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ; điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 01(một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho bị cáo được hưởng án theo thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Mạnh C cho Uỷ ban nhân dân phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 01 lần trở lên, thì T a án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì T a án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2.Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ