- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm “ Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG TH PHỐ HÀ NỘI ----------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 256/2018/HSST Ngày 23 tháng 10 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, TH PHỐ HÀ NỘI
- TH phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga
2 Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Lài - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hải - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 23 tháng 10 năm 2018 trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 263/2018/ HSST ngày 03 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn Q, Sinh năm: 1988; HKTT + Chỗ ở: Kim Động, Hưng Yên; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Phạm Văn H và bà: Nguyễn Thị D; Tiền án, tiền sự: không
Danh chỉ bản số 337 ngày 16/7/2018 do Công an quận Hai Bà Trưng tH phố Hà Nội lập. Bị bắt quả tang ngày 15/7/2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an tH phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI D VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau :
Khoảng 22 giờ ngày 14/7/2018, Phạm Văn Q đi bộ đến khu vực trước cửa số nhà 60 ngõ 107 phố Lĩnh Nam, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, tH phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Q gặp và mua 01 gói ma túy “đá” từ một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q cất gói ma túy vào trong túi xách đang đeo trên người rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/7/2018, khi Q đi đến khu vực trước cửa số nhà 66 ngõ 191 phố Minh Khai, phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội thì bị tổ công tác Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Cảnh sát cơ động, Công an tH phố Hà Nội kiểm tra H chính, Q đã tự giác giao nộp từ trong túi xách 01 túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (Q tự khai là ma túy Đá). Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của Q 01 túi xách giả da màu đen kích thước 20x25cm.
Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Phạm Văn Q.
Tại bản kết luận giám định số 6093/KLGĐ-PC54 ngày 23/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tH phố Hà Nội kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,249 gam.
Ngày 15/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức dẫn giải xác định nơi mua ma túy và người bán ma túy cho Q, kết quả Q xác định được địa điểm mua ma túy là khu vực trước cửa số nhà 60 ngõ 107 Lĩnh Nam, phường Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho Q. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng không có căn cứ xác minh xử lý.
Tại bản cáo trạng số 241/CT-VKSHBT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Văn Q về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội sau khi phân tích nội D vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Phạm Văn Q với mức án từ 18 đến 24 tháng, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và 01 túi xách giả da màu đen thu giữ của bị cáo.
Bị cáo Phạm Văn Q đã khai nhận H vi phạm tội của mình như đã nêu trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về H vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về H vi, Quyết định của Cơ quan tiến H tố tụng, người tiến H tố tụng. Do đó, các H vi , Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến H tố tụng, người tiến H tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/7/2018, tại khu vực trước cửa số nhà 66 ngõ 191 phố Minh Khai, phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội, Phạm Văn Q đã có H vi tàng trữ trái phép 0,249 gam Methamphetamine thì bị bắt.
H vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ H vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của H vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận H vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội truy tố và kết luận về H vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều tH khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
* Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và 01 túi xách giả da thu giữ của bị cáo.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm “ Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Phạm Văn Q 16 (mười sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/7/2018.
* Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy trong có 0,249 gam Methamphetamine, đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Phạm Văn Q.
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách giả da màu đen, có dây đeo, đã qua sử dụng, có kích thước khoảng 20x25cm.
Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi H án dân sự quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, tH phố Hà Nội và Chi cục thi H án dân sự quận Hai Bà Trưng, TH phố Hà Nội.
* Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát quận Hai Bà Trưng; - Công an quận Hai Bà Trưng; - Lưu hồ sơ | Lương Thị Thu Hà |