vanban.org

Bản án 255/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 26/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn M.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Tháp (Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang cũ) về hình phạt. Xử phạt bị cáo Phạm Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2025/HS-PT
Ngày: 26 – 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.

Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu;

Ông Võ Trung Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 185/TLPT-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp (Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang cũ).

- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn M, sinh năm 1991, tại Đồng Tháp (tỉnh Tiền Giang cũ); giới tính: nam; nơi cư trú: ấp H, xã P, tỉnh Đồng Tháp (ấp H, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang cũ); số căn cước công dân: 082091011XXX; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M1 (chết) và bà Trần Thị N; vợ: Nguyễn Thị Ngọc C (đã ly hôn); con: có 01 người sinh năm 2016; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người giám hộ của bị cáo: Bà Trần Thị N, sinh ngày 01/01/1961;

Nơi cư trú: ấp H, xã P, tỉnh Đồng Tháp.

(Địa chỉ cũ: ấp H, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Đức L, Văn phòng Luật sư Lạc Huy thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, trong vụ án có người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, bị cáo Phạm Văn M một mình điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 71C1-303.57 lưu thông trên đường tỉnh lộ 867 đi từ thị trấn M đến xã Đ, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Khi đến đoạn thuộc ấp L, xã A, huyện P, tỉnh Tiền Giang xe do bị cáo M điều khiển lấn trái đường 1,3 mét va chạm với xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-628.88 do em Nguyễn Quách T, sinh ngày 04/02/2006 điều khiển chở cha ruột là ông Nguyễn Trường H, sinh năm 1982 cùng Trú tại: Ấp N, xã G, huyện P, tỉnh Tiền Giang ngồi phía sau đang lưu thông theo hướng ngược lại gây tai nạn. Hậu quả: Nguyễn Quách T tử vong tại chỗ, ông Nguyễn Trường H và bị cáo Phạm Văn M bị thương và 02 xe hư hỏng. Qua xét nghiệm, nồng độ cồn trong máu của bị cáo M là 94.28mg/100 ml.

Sau tai nạn, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường được xác định như sau:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn nằm trên đường tỉnh lộ 867 thuộc ấp L, xã A, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 08 m, có vạch phân tuyến không liên tục ở giữa, chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn thông thoáng, khô ráo, không chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất. Trên hành lang an toàn hướng Đông Bắc có đèn đường chiếu sáng đang hoạt động bình thường.

- Chọn tâm vạch phân tuyến không liên tục làm chuẩn, ký hiệu (A).

- Vùng va chạm giữa xe mô tô 02 bánh biển số 63B2 – 628.88 và xe mô tô 02 bánh biển số 71C1 – 303.57 là nằm trên phần đường hướng Nam, ký hiệu số 05. Tâm vùng cách A là 1,3 m.

Theo biên bản khám nghiệm xe 63B2 – 628.88 bị hư hỏng như sau:

- Cụm đèn chiếu sáng trước và kính chiếu hậu trái bị vỡ rơi ra ngoài.

- Ốp trước tay lái bị bung pass.

- Vành bánh xe trước bị vỡ kim loại.

- Giỏ kim loại phía trước xe bị cong vênh.

- Chắn bùn trước vỡ nhựa.

- Đuôi gác chân trước bên trái bị mài khuyết kim loại.

Theo biên bản khám nghiệm xe 71C1 – 303.57 bị hư hỏng như sau:

- Mặt nạ trước bị vỡ.

- Cụm đèn chiếu sáng trước bị gãy.

- Mặt ngoài ốp trước tay lái phải bị mài khuyết nhựa.

- Kính chiếu hậu trái gãy rơi ra ngoài.

- Đuôi càng phanh tay bên phải mài khuyết kim loại.

- Ốp trước tay lái bị bung pass.

- Yếm bửng bên trái và sàn ốp để chân trái bị vỡ bung ra ngoài.

- Ốp nồi bị móp, vỡ kim loại.

- Mặt ngoài ốp sườn phải bị mài khuyết nhựa.

- Mặt ngoài yếm bửng phải bị mài khuyết nhựa.

- Phuộc bánh trước bên trái cong vênh.

- Yên xe bị gãy.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 75-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 26/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Nguyễn Quách T tử vong do chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ 02 bán cầu đại não. Xuất huyết 02 bán cầu tiểu não, xuất huyết quanh thể chai. Dập não thái dương phải và trái, dập tiểu não, vỡ vòm sọ, sàng sọ do tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 238-2024/KLTTCT-TTPY ngày 09 tháng 07 năm 2024 của Trung tâm Pháp y Tiền Giang kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Trường H là: 06% (Sáu phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 30/2025/KLGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Trung tâm Pháp y Tâm thần Khu vực Tây Nam Bộ đối với Phạm Văn M kết luận như sau:

- Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 25/02/2024: Đương sự Phạm Văn M đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

- Hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do bệnh lý tâm thần: Hội chứng sau chấn động não (F07.2 - ICD10), mức độ suy não chấn thương.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 71C1-303.57, hiệu Yamaha, màu đen; số máy: 5P11168897; số khung: P110AY168895, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-628.88, hiệu Yamaha, màu sơn: đỏ đen; số máy: E3X9E134333; số khung: 3220HY033635, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 (Một) Giấy phép lái xe số AK799333 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Tiền Giang cấp cho Phạm Văn M.

- 01 (Một) túi niêm phong ký hiệu: NS4, mã số 2010183, trong túi niêm phong chứa các mãnh vỡ thu giữ tại hiện trường vụ án.

- 01 (Một) thẻ nhớ chứa video clip ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông.

Trên cơ sở các dấu vết để lại ở hiện trường, các phương tiện, tài liệu có liên quan đủ cơ sở xác định lỗi trong vụ tai nạn hoàn toàn thuộc về Phạm Văn M đã điều khiển xe 71C1-303.57 trong tình trạng cơ thể có nồng độ cồn và đã lấn trái đường 1,3 mét va chạm vào xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-628.88 do Nguyễn Quách T điều khiển chở phía sau là ông Nguyễn Trường H đang lưu thông theo hướng ngược lại làm T tử vong và ông H bị thương 06%. Hành vi này vi phạm khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 71C1-303.57. Qua điều tra xác định xe này do anh Trần Văn S, sinh năm 1977, ĐKTT: Ấp H, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Tuy nhiên, anh S đã bán xe này cho anh Phạm Văn M2, sinh năm 1988 là anh ruột và ngụ cùng địa chỉ với bị can M nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 25/02/2024, Phạm Văn M tự ý lấy xe 71C1-303.57 đi và sau đó gây tai nạn anh M2 hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại giấy tờ và xe cho anh M2 xong.

- Đối với giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-628.88. Qua điều tra xác định xe này do anh Lê Thiện T1, sinh năm 1998, ĐKTT: Khu phố M1, phường N1, thị xã C, tỉnh Tiền Giang đứng tên sở hữu. Tuy nhiên, anh T1 đã bán xe này cho anh Nguyễn Trường H nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 24/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phước đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức chuyển giấy chứng nhận đăng ký và xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-628.88 đến Công an huyện Tân Phước để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, đại diện gia đình nạn nhân là ông Nguyễn Trường H (cha ruột Nguyễn Quách T) đã nhận số tiền bồi thường là 114.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Tháp (Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang cũ) đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 11 tháng 6 năm 2025, bị cáo Phạm Văn M có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Phạm Văn M giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Về tố tụng, bị cáo có đơn kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ pháp luật. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 22/2025/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Tháp (Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang cũ).

- Ý kiến bào chữa của Luật sư: Bị cáo có ý thức thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình có công cách mạng; bản thân không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và việc làm ổn định. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, để tạo điều kiện cho bị cáo lao động tạo thu nhập trả khoản nợ mà bị cáo đã mượn để bồi thường thiệt hại, hiện bị cáo cũng bị hạn chế về khả năng nhận thức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Về nội dung xét kháng cáo:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/02/2024 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 71C1-303.57 (có giấy phép lái xe) trong máu có nồng độ cồn lưu thông trên tuyến Tỉnh lộ 867 theo hướng từ thị trấn M, huyện P, tỉnh Tiền Giang đến xã Đ, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Khi đến đoạn đường thuộc ấp L, xã A, huyện P, tỉnh Tiền Giang, bị cáo điều khiển xe lấn trái đường 1,3m và chạm vào xe mô tô biển số 63B2-628.88 do Nguyễn Quách T điều khiển phía sau chở ông Nguyễn Trường H đang lưu thông hướng ngược lại gây ra tai nạn, làm Nguyễn Quách T tử vong, Nguyễn Trường H bị thương 06%.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ gây ra hậu quả chết người. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng của người khác, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu có nồng độ cồn, lấn trái đường là gây nguy hiểm cho người khác nhưng vẫn tự tin thực hiện dẫn đến hậu quả chết người. Do vậy, sau khi xem xét các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có thân nhân là người có công cách mạng, sau tai nạn bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần theo quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, có xem xét đến tình trạng sức khỏe hiện tại của bị cáo. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, nếu cho bị cáo hưởng án treo sẽ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo.

. Các phần liên quan đến kháng cáo cần xem xét: không có.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ chấp nhận như nhận định của Hội đồng xét xử.

. Xét ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ pháp luật, trái nhận định trên của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo kháng cáo về hình phạt không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn M.

- Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Tháp (Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang cũ) về hình phạt.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

Cỡ chữ