- Tranh chấp gì? án hình sự — "255 10-12 Nguyễn Đình K vdp 321 - không phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K1(hai) năm tù, về tội “Đánh bạcnhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 255/2024/HS-ST Ngày 10 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kính
2. Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thiện Tiến, bà Đinh Nguyễn Kiều Bân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 275/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 466/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đình K năm 1991 tại Thành phố H nơi cư trú: 3019/4/4 P, Phường G, Quận H, Thành phố H nghiệp: Tài xế trình độ học vấn: 12/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Thị Kim L; có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/01/2011, nhập ngũ thi hành nghĩa vụ quân sự tại Đại đội 15 - Trung đoàn H3- Sư đoàn C - Quân khu G. Đến ngày 31/01/2013, hoàn thành nghĩa vụ và xuất ngũ.
Bị cáo tại ngoại (có mặt)
2. Đào Thị T1 sinh năm 1966 tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố H nghiệp: Buôn bán trình độ học vấn: 3/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn M (chết) và bà Cao Thị N (chết); có chồng và 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình K1: Ông Ngô Công H - Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 03/3/2024, Tổ tuần tra 363 - Công an Q tuần tra đến trước số A P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, thì phát hiện Nguyễn Đình K1 đang điều khiển xe gắn máy loại SH150, biển số: 59U2 - 230.29 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và đưa K1 về trụ sở Công an P1, Quận H để làm việc. Qua kiểm tra, Tổ tuần tra phát hiện trong điện thoại di động của K1 có thông tin liên quan đến hoạt động cho vay và đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số đề được thua bằng tiền. Công an tiến hành tạm giữ vật chứng liên quan và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q để điều tra làm rõ.
Ngày 06/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đình K1 tại nhà số C P, Phường G, Quận H. Qua khám xét, Công an không phát hiện thu giữ thêm tài liệu, vật chứng gì khác.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đình K1 khai nhận: Khoảng giữa năm 2023, do có nhu cầu kiếm thêm thu nhập nên K1 bắt đầu hoạt động mua bán số đề được thua bằng tiền cho người quen, với hình thức như sau:
Trường hợp khách mua 02 con số với số tiền 1.000 đồng/lô và lấy kết quả mở thưởng của đài miền T2 hoặc miền N thì K1 sẽ tính tiền khách bằng cách nhân với 18 lô và nếu lấy kết quả mở thưởng của đài miền B thì K1 sẽ tính tiền khách bằng cách nhân với 27 lô. K1 giảm cho khách 20% trên tổng số tiền cho một lượt mua đề, trường hợp khách trúng thưởng 01 lô trong đài thì khách sẽ nhận thưởng bằng số tiền 1.000 đồng x 75 = 75.000 đồng.
Trường hợp khách mua 03 con số với số tiền 1.000 đồng và lấy kết quả mở thưởng của đài miền B thì K1 sẽ tính tiền khách bằng cách nhân với 23 lô. K1 giảm cho khách 20% trên tổng số tiền cho một lượt mua đề, trường hợp khách trúng thưởng 01 lô trong đài thì khách sẽ nhận thưởng bằng số tiền 1.000 đồng x 650 = 650.000 đồng. Nguyễn Đình K1 mua bán số đề với nhiều con bạc khác nhau, cụ thể như sau:
1. Đào Thị T3 (tên zalo là Gái T4) khai nhận: Từ ngày 13/10/2023 đến ngày 14/11/2023, T4 nhắn tin liên lạc qua ứng dụng mạng xã hội Zalo với Nguyễn Đình K1 để mua số đề. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ đến nhà T4 để trả thưởng bằng tiền mặt và thu tiền đánh bạc nếu không trúng thưởng. Qua chiết tính, Nguyễn Đình K1 và Đào Thị T3 xác nhận vào ngày 22/10/2023, T3 sử dụng tài khoản Zalo “Gái Thảo” nhắn tin với nội dung: “69 bl 20 769 bl 10 xc10” (nghĩa là T3 mua số đề 69, hình thức bao lô với số tiền 20.000 đồng; mua số 769, hình thức bao lô với số tiền 10.000 đồng và số 769 xỉu chủ với số tiền 10.000 đồng), K1 xác nhận đồng ý. Kết quả mở thưởng ngày 22/10/2023 của đài xổ số kiến thiết miền B thể hiện T3 trúng thưởng số đề “69 và 769”. Tổng số tiền đánh bạc giữa K1 và T3 của đài miền B là 8.810.000 đồng (gồm tiền mua đề và tiền trúng thưởng).
Đối với các ngày mua số đề khác, T3 và K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
2. Nguyễn Thị N1 (tên thường gọi là X): Từ ngày 24/01/2024 đến ngày 03/3/2024, N1 nhắn tin qua Zalo với Nguyễn Đình K1 để mua số đề. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ đến nhà N1 để trả thưởng bằng tiền mặt và thu tiền đánh bạc nếu không trúng thưởng. Qua chiết tính, trong các ngày mua bán số đề, N1 và K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
3. T5 (tên zalo Lê T5, chưa rõ lai lịch): Là bạn K1 quen biết ngoài xã hội, từ ngày 15/02/2024 đến ngày 03/3/2024, T5 nhắn tin qua Zalo gửi cho Nguyễn Đình K1 để mua số đề. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ đến trước số B P, Phường G, Quận H để trả thưởng bằng tiền mặt hoặc K1 và T5 sẽ giao dịch qua chuyển khoản ngân hàng. Tài khoản của T5 có số 000499599699 mở tại ngân hàng M1, tên LE HOANG THONG. Qua chiết tính, trong các ngày mua bán số đề, K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có công văn đề nghị ngân hàng M1 cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng nêu trên nhưng chưa có kết quả.
4. T6 (tên zalo Thành N2, chưa rõ lai lịch): Là bạn K1 quen biết ngoài xã hội. Từ ngày 27/12/2023 đến ngày 03/3/2024, T6 nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Đình K1 để mua số đề. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ trả thưởng qua giao dịch chuyển khoản ngân hàng của Thành tài khoản số 6222205162098 mở tại ngân hàng A, tên NGUYEN VAN THANH. Qua chiết tính, trong các ngày mua bán số đề, K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có công văn đề nghị ngân hàng A cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng nêu trên nhưng chưa có kết quả.
5. P (tên F “Thiếu Gia”, chưa rõ lai lịch): Là bạn K1 quen biết ngoài xã hội. Từ tháng 02/2024 đến ngày 03/3/2024, P nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Đình K1 để mua số đề. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ đến gặp P ở hẻm P, Quận H để trả thưởng bằng tiền mặt hoặc K1 và P sẽ giao dịch qua chuyển khoản ngân hàng của P số tài khoản 17381937 mở mở tại ngân hàng A1, tên VU DUC PHUONG.
Qua chiết tính, Nguyễn Đình K1 xác nhận vào ngày 02/3/2024, tổng số tiền đánh bạc giữa K1 và P của đài miền N3 là 19.030.000 đồng (gồm có tiền mua đề và tiền trúng thưởng).
Đối với các ngày mua bán số đề khác, K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có công văn đề nghị ngân hàng A1 cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng nêu trên nhưng chưa có kết quả.
6. H1 (tên zalo T7, chưa rõ lai lịch): Là bạn K1 quen biết ngoài xã hội. Từ ngày 28/5/2023 đến ngày 03/3/2024, H1 nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Đình K1 để mua số đề, H1 không ghi thường xuyên mà khoảng một tháng mới ghi một lần. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ đến gặp H1 ở hẻm P, Quận H để giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt số tiền dùng để đánh bạc. Qua chiết tính, trong các ngày mua bán số đề, K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có công văn đề nghị Công ty V cung cấp thông tin tài khoản Zalo “Tranvanhung” nhưng chưa có kết quả.
Tiến hành cho Nguyễn Đình K1 chỉ điểm xác định nơi ở của H1 là tại nhà không số kế số A P, Phường G, Quận H. Qua rà soát chưa phát hiện H1 nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được.
7. H2 (tên zalo H2, chưa rõ lai lịch), là bạn K1 quen biết ngoài xã hội. Từ ngày 22/9/2023 đến ngày 03/3/2024, H2 nhắn tin qua Zalo gửi cho Nguyễn Đình K1 để mua số đề. Trường hợp trúng thưởng thì K1 sẽ đến gặp H2 ở hẻm P, Quận H để trả thưởng bằng tiền hoặc nếu H2 không trúng thưởng thì H2 đến các tiệm điện thoại hoặc cửa hàng “Thế giới di động” nhờ dịch vụ chuyển tiền vào tài khoản cho K1. Qua chiết tính, trong các ngày mua bán số đề, K1 xác nhận số tiền dùng để đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng.
- Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có công văn đề nghị Công ty V cung cấp thông tin tài khoản Zalo “H2” nhưng chưa có kết quả.
Quá trình điều tra xác định, tổng số tiền đánh bạc giữa K1 và các con bạc dựa trên kết quả mở thưởng của các đài miền B, T2, N3 trong cùng một ngày số tiền trên 5.000.000 đồng như sau:
1. Ngày 22/10/2023: Tổng số tiền đánh bạc đài miền B giữa K1 và Đào Thị T3 là 8.810.000 đồng.
2. Ngày 14/01/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền B là 5.350.000 đồng, trong đó: Số tiền của K1 với H2 (tên zalo “H2”) là 4.060.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với T6 (tên zalo “Thành N2” là 1.290.000 đồng.
3. Ngày 21/02/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 6.470.000 đồng, trong đó: Số tiền của K1 với Nguyễn Thị N1 và T5 (tên zalo “Lê Thông”) là 1.132.000 đồng. Số tiền đánh bạc của K1 với T6 (tên zalo “Thành N2”) là 5.335.000 đồng.
4. Ngày 22/02/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 5.247.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc của K1 với T5 (tên zalo “Lê T5”) và Nguyễn Thị N1 là 619.000 đồng. Số tiền đánh bạc của K1 với T6 (tên zalo Thành N2) là 4.628.000 đồng.
5. Ngày 28/02/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 8.314.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc của K1 với P (tên Facebook “Thiếu gia”) là 4.160.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với T5 (tên zalo “Lê T5”) là 34.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với T6 (tên zalo “Thành N2”) là 4.120.000 đồng.
6. Ngày 29/02/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 5.675.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc của K1 với T5 và T6 (tên zalo “Thành N2”) là 3.835.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với P (tên Facebook “Thiếu gia”) là 1.840.000 đồng.
7. Ngày 01/3/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền B là 6.991.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc của K1 với P (tên Facebook “Thiếu gia”) là 1.890.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với Nguyễn Thị N1 và T6 (tên zalo “Thành N2”) là 1.041.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với H2 (tên zalo “H2”) là 4.060.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 6.660.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc của K1 với P (tên Facebook “Thiếu gia”) là 2.680.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với Nguyễn Thị N1 và H2 (tên zalo “H2”) là 2.870.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với T5 (tên zalo “Lê Thông”) và T6 (tên zalo “Thành N2”) là 1.110.000 đồng.
8. Ngày 02/3/2024: Tổng số tiền đánh bạc đài miền N là 25.410.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc của K1 với P (tên Facebook “Thiếu gia”) là 19.030.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với Nguyễn Thị N1 là 440.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với H2 (tên zalo “H2”) là 3.720.000 đồng; Số tiền đánh bạc của K1 với T6 (tên zalo “Thành N2”) là 2.220.000 đồng.
Ngoài hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức mua bán số đề được thua bằng tiền thì Nguyễn Đình K1 còn có hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đi thu tiền góp giùm Từ Thị Nguyệt Á. Quá trình điều tra, Nguyễn Đình K1, Từ Thị Nguyệt Á và những người vay tiền khai nhận, lãi suất K1 và Á cho vay dao động từ 01% đến 07%/tháng, chưa vượt quá gấp 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và số tiền thu lợi bất chính là dưới 30.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đình K1 và Đào Thị T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng tạm giữ trong vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số IMEI: 3572670918863 86, sim số: 0906719814 tạm giữ của Nguyễn Đình K1 sử dụng vào mục đích phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số IMEI: 866420051216599 tạm giữ của Đào Thị T3 sử dụng vào mục đích phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 249VKS-Q8 ngày 30/9/2024Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Đình KhoaĐào Thị Thảo về tội “Đánh bạctheo khoản 1 Điều 321Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Đình KhoaĐào Thị T8 về tội “Đánh bạcSau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K2 năm đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, áp dụng thời gian thử thách đối với bị cáo từ 02 năm đến 04 năm.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Đào Thị T3 từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, áp dụng thời gian thử thách đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng.
Phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 02 điện thoại di động tạm giữ của các bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình K1 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo như sau: Thống nhất với nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo; thống nhất với tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình K1. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh phạm tội của bị cáo do gia đình khó khăn. Bị cáo có chị em gái nhưng đã lập gia đình riêng và tất cả họ đều đang nuôi con nhỏ, bị cáo có 01 em trai nhưng đã chết trong đợt dịch Covid-19 vừa qua, nên hiện nay bị cáo đang là lao động chính nuôi cha mẹ già yếu, vợ bị cáo ly thân với bị cáo, đã bỏ nhà ra đi để lại cho bị cáo trực tiếp nuôi 01 con còn nhỏ (sinh năm 2022). Bị cáo đã nhập ngũ và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương làm ăn sinh sống. Trong thời gian được tại ngoại điều tra, bị cáo chăm chỉ lao động làm ăn không vi phạm pháp luật và hiện đang làm tài xế lái xe cho công ty để nuôi cha mẹ già yếu và con nhỏ. Từ khi bị điều tra, truy tố đến nay, bị cáo đã thực sự rất ăn năn hối cải về lỗi lầm của mình và quyết tâm sửa đổi bản thân trở thành công dân tốt. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt cho bị cáo hưởng án treo như Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa đổi lỗi lầm, làm người có ích cho xã hội và có điều kiện lao động hợp pháp có thu nhập phụng dưỡng cha mẹ già yếu và nuôi con nhỏ.
Bị cáo K1 không bào chữa bổ sung, các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định:
Vào ngày 22/10/2023, các bị cáo Nguyễn Đình K1 và Đào Thị T3 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số đề ăn thua bằng tiền. Qua điều tra xác định, số tiền dùng để đánh bạc giữa các bị cáo là 8.810.000 đồng.
Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Đánh bạc” như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình K1 và Đào Thị T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận.
Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
Bị cáo T3 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T3.
Bị cáo K1 phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên (đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng), đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Bị cáo T3 đang là lao động chính buôn bán nhỏ nuôi chồng bị bệnh (có xác nhận của chính quyền địa phương). Bị cáo K1 chưa có tiền án tiền sự, nhân thân tốt và đang là lao động chính đang nuôi cha mẹ già yếu và đang trực tiếp nuôi 01 con nhỏ sinh năm 2022 (vợ bị cáo đã ly thân bỏ nhà ra đi hiện không rõ ở đâu và để lại con nhỏ cho bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng). Ngoài ra, bị cáo K1 đã nhập ngũ và hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự trở về địa phương làm ăn sinh sống.
Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tính đồng phạm nhưng mang tính nhất thời, giản đơn. Bị cáo K1 là người bán số đề, bị cáo T3 là người mua số đề và trực tiếp ăn thua với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để xem xét quyết định hình phạt phù hợp với vai trò từng bị cáo.
Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo K1 thống nhất với tội danh, điều khoản truy tố nên không tranh luận. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo K1 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét đề nghị của người bào chữa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử đã phân tích nêu trên nên có căn cứ chấp nhận.
Xét các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i (đối với bị cáo T3), điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo K1 phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về xử lý vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max tạm giữ của bị cáo K1 và 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh tạm giữ của bị cáo T3, xét đây là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Nguyễn Thị N1 có hành vi “Đánh bạc” được thua bằng tiền dưới hình thức mua số đề nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ để xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị N1 về hành vi đánh bạc trái phép là phù hợp.
Nguyễn Đình K1 và Từ Thị Nguyệt Á có hành vi cho vay tiền với lãi suất dưới 05 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và số tiền thu lợi bất chính là dưới 30.000.000 đồng nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Cơ quan điều tra đã tách hồ sơ để xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với K1 và N1 là phù hợp.
Đối với hành vi đánh bạc của các con bạc chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra truy xét, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K1(hai) năm tù, về tội “Đánh bạcnhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đình K3 tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đào Thị T3 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạcnhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Đào Thị T3 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Đình K4 Ủy ban nhân dân Phường G1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Đào Thị T3 cho Ủy ban nhân dân Phường F1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số IMEI: 357267091886386, sim số: 0906719814.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số IMEI: 866420051216599.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/12/2024).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Đình KhoaĐào Thị T8 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo được hưởng án treo).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |