- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BÀ NGUYỄN THỊ T TRANH CHẤP LY HÔN ÔNG ĐỖ MINH T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 255/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Hiền;
2. Ông Ngô Văn Nghị.
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Nữ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: thôn 1, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1982 (vắng mặt lần 02 không rõ lý do);
Địa chỉ: thôn 1, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 6 năm 2024, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Đỗ Minh H tự nguyện tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Vợ chồng bà có đăng ký kết hôn vào ngày 26 tháng 03 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã B.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra tranh cãi. Ông H thường xuyên đi nhậu say về rồi chửi mắng, đánh đập bà, nhiều lần bà bỏ qua, khuyên ngăn ông H để ông thay đổi, quay về chăm lo cho gia đình nhưng ông H vẫn chứng nào tật nấy. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà không thể nào tiếp tục sống với một người chồng vũ phu như vậy, bà yêu cầu ly hôn ông Đỗ Minh H để bà có một cuộc sống bình thường, bình yên lo làm ăn nuôi con.
-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Trâm A, sinh ngày 03/12/2009; Đỗ Như Ý, sinh ngày 19/5/2011. Khi ly hôn, các con chung muốn ở với ba hay mẹ là quyền của các con, nếu các con chọn ở với bà thì bà nuôi dưỡng, chăm sóc các con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2024, cháu Đỗ Trâm A, sinh ngày 03/12/2009 (con chung của bà bà T và ông H) trình bày: Hiện nay cháu đang ở chung với mẹ (bà T). Khi cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng về chung sống với mẹ là bà Nguyễn Thị T.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2024, cháu Đỗ Như Ý, sinh ngày 19/5/2011 (con chung của bà bà Thuận và ông H) trình bày: Hiện nay cháu đang ở chung với mẹ (bà T). Khi cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng về chung sống với mẹ là bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Đỗ Minh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Về các thủ tục giải quyết vụ án ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản hoặc quan điểm gửi đến Tòa án; không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Như vậy ông Hiền không xem trọng cuộc hôn nhân giữa ông và bà H. Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Theo xác nhận ngày 20/6/2024 của Công an xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định: Ông Đỗ Minh H, sinh năm 1982, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn thôn 1, xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông H có mặt tại địa phương.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự đúng theo quy định.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt,; bị đơn ông Đỗ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng các Điều 8, 9, 56,71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Về hôn nhân: Bà T được ly hôn ông Đỗ Minh H. Về con chung: Giao hai con chung tên Đỗ Trâm A, sinh ngày 03/12/2009; Đỗ Như Ý, sinh ngày 19/5/2011 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi trưởng thành (hai con chung Đỗ Trâm A và Đỗ Như ý đều có nguyện vọng ở với mẹ là bà Nguyễn Thị T).; ông H không cấp dưỡng nuôi con chung vì bà T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vụ án Hôn nhân và Gia đình khởi kiện ly hôn. Bị đơn ông Đỗ Minh H có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay thôn 1, xã B, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T có đơn xét xử vắng mặt; ông Đỗ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Đỗ Minh H là hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B , huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định ngày 26 tháng 03 năm 2009 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra tranh cãi. Ông H thường xuyên đi nhậu say về rồi chửi mắng, đánh đập …bà đã khuyên giải và nhiều lần bỏ qua nhưng ông H vẫn chứng nào tật nấy. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng nên bà yêu cầu ly hôn ông H.
Mặc dù ông Đỗ Minh H đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhiều lần để làm việc, hòa giải tiếp cận và công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Việc ông H không đến Tòa làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ ông H không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Như vậy, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà T và ông H không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài; do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Trâm A, sinh ngày 03/12/2009; Đỗ Như Ý, sinh ngày 19/5/2011. Khi ly hôn, hai con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ (bà T), bà T có nguyện vọng nuôi con. Do đó, cần giao con chung Đỗ Trâm A và Đỗ Như ý cho bà Tn tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần buộc bà Nguyễn Thị Thuận phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003674 ngày 19/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà T đã nộp xong án phí.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây
Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273; Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đỗ Minh H.
- Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Trâm A, sinh ngày 03/12/2009 và Đỗ Như Ý, sinh ngày 15/5/2011 cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo đến trưởng thành (hai con chung A và Ý đều có nguyện vọng ở với mẹ là bà Nguyễn Thị T).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi đến thăm nom, chăm sóc, giúp đỡ con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003674 ngày 19/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà T đã nộp xong án phí.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại cấc Điều 6, 7 và 7 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Định;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tây Sơn;
- Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
- UBND xã Bình Nghi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án
Nguyễn Thị Triều
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn; - UBND xã Bình Nghi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Triều |