vanban.org

Bản án 255/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 27/12/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một ph n yêu c u kháng cáo của b đơn bà Nguyễn Ng c T2, chấp nhận yêu c u kháng cáo của b đơn ông Nguyễn Văn T3.

Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H. Buộc bà Nguyễn Ng c T2 có nghĩa vụ trả cho ch Tr n Th Ng c H số tiền vốn vay 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng, tổng cộng vốn vay và lãi là 6.948.900.000 đồng (sáu t chín trăm bốn mươi tám triệu chín trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một ph n yêu c u kháng cáo của b đơn bà Nguyễn Ng c T2, chấp nhận yêu c u kháng cáo của b đơn ông Nguyễn Văn T3.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 126 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2023/DS-PT
Ngày: 27 - 12 - 2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Dũng

Bà Tr n Th Ng c Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Th Kim Yến – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Đoàn Th Kim Tuyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DSST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 286/2023/QĐPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ch Tr n Th Ng c H; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ch Phan Nguyễn Hoa T và anh Huỳnh N; Cùng nơi cư trú: Số A, phường H, quận N, thành phố C n Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 11/7/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Tr n Vũ Thanh T1 và ông Tr n Văn Á – Văn phòng Luật sư Lê K thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Ng c T2.

Nơi cư trú: ấp T, xã T, th xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Ng c T2: Anh Trương Ng c S; Nơi cư trú: Số A, H, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 26/12/2023).

2. Ông Nguyễn Văn T3.

Nơi cư trú: ấp T, xã T, th xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Tr n Minh N1; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tr n Vũ Thanh T1 và ông Tr nh Hữu B – Văn phòng Luật sư Lê K thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

- Người kháng cáo: B đơn bà Nguyễn Ng c T2 và ông Nguyễn Văn T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Tr n Th Ng c H và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là anh Huỳnh N trình bày:

Ch có cho bà Nguyễn Ng c T2 vay nhiều l n tiền với tổng số tiền 6.300.000.000 đồng, đến ngày 27/3/2022 giữa ch và bà T2 có làm giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022 đối với số tiền vay là 6.300.000.000 đồng, bà T2 cam kết trong thời hạn 03 tháng sẽ trả tiền cho ch , việc vay tiền có ông T3 chồng bà T2 biết. Tuy nhiên, bà T2 không trả tiền vốn và lãi cho ch .

Nay ch yêu c u bà T2, ông T3 phải có trách nhiệm trả cho ch số tiền vốn 6.300.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng tính từ ngày 27/3/2022 đến ngày 19/8/2022 tương đương số tiền 447.300.000 đồng, tổng cộng là 6.747.300.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ch H là anh Huỳnh N yêu c u bà T2, ông T3 phải có trách nhiệm trả cho ch H số tiền vốn 6.300.000.000 đồng; tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 27/6/2022 đến ngày 08/8/2023 tương đương số tiền 648.900.000 đồng, tổng cộng là 6.747.300.000 đồng và rút lại yêu c u tính lãi kể từ ngày 27/3/2022 đến ngày 25/6/2022.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Ng c T2 trình bày:

Bà không có mượn của ch H số tiền 6.300.000.000 đồng mà bà chỉ mượn của anh Nguyễn Minh N2 số tiền 50.000.000 đồng. Còn giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022 do anh N2 cùng nhiều đối tượng gian hồ đến nhà bà, ép bà ký tên và lăn tay nên bà không đồng ý trả số tiền trên theo yêu c u ch H.

Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 07/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn T3 trình bày:

Ông không đồng ý liên đới cùng bà T2 trả nợ cho ch H vì ông không biết số nợ này và cũng không có ký tên vào giấy xác nhận nợ. Thửa đất 80 và thửa 81 là tài sản riêng nên ông yêu c u hủy bỏ quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất số 80, 81 do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại bản khai ngày 04/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tr n Minh N1 trình bày:

Anh là em ruột của ch Tr n Th Ng c H. Vào khoảng năm 2020, anh cho bà Nguyễn Ng c T2 mượn số tiền trên 400.000.000 đồng, không thỏa thuận thời hạn và có lập biên nhận mượn tiền, anh là người giữ biên nhận nhưng đến khi chốt nợ với ch H thì anh đã xé bỏ biên nhận. Hiện nay biên nhận đối với số tiền 400.000.000 đồng không còn. Sau đó, bà T2 tiếp tục mượn anh nhiều l n tiền tổng cộng bà T2 đã mượn anh số tiền là 2.200.000.000 đồng, những l n mượn tiền anh chỉ ghi chú trong điện thoại và không có lập biên nhận, mục đích bà T2 mượn tiền là để lên liếp làm vườn, mua phân bón. Anh đưa tiền cho bà T2 nhận tại nhà bà T2 hoặc tại quán cà phê, không có mặt ông T3.

Nguồn tiền để cho bà T2 mượn là của ch ruột của anh là ch H. Đến cuối năm 2020 đ u năm 2021, giữa ch H, anh và bà T2 có gặp nhau chốt nợ và cả ba người thống nhất số tiền bà T2 nợ anh 2.200.000.000 đồng sẽ bàn giao sang nợ ch H. Việc thỏa thuận chuyển nợ từ anh sang ch H các bên không lập văn bản. Sau đó, ch H tiếp tục cho bà T2 mượn nhiều l n tiền và đến ngày 27/3/2022, ch H và bà T2 hẹn nhau đến quán cà phê R ở th xã B để chốt nợ và có anh chứng kiến, bà T2 tự nguyện ghi biên nhận chốt nợ thiếu ch H tổng số tiền 6.300.000.000 đồng và ký tên, điểm chỉ lăn tay vào biên nhận. Ngoài ra, anh không có yêu c u và ý kiến gì khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã quyết đ nh:

Căn cứ vào Điều 5, Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức, thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H.

Buộc bà Nguyễn Ng c T2 và ông Nguyễn Văn T3 cùng liên đới trả cho ch Tr n Th Ng c H số tiền vay 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu c u phản tố của ông Nguyễn Văn T3.

3. Đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H về việc yêu c u bà Nguyễn Ng c T2 và ông Nguyễn Văn T3 trả 03 tháng tiền lãi suất.

4. Về xử lý tài sản bảo đảm:

Ch Tr n Th Ng c H được nhận lại số tiền bảo đảm 125.715.000 đồng và lãi suất theo quy đ nh tại sổ tiết kiệm số AD 00022545631 của ngân hàng N3 – Chi nhánh B1 khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Giữ nguyên quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật đ nh.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, b đơn bà Nguyễn Ng c T2 có đơn kháng cáo với nội dung yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, bà chỉ đồng ý trả cho anh Tr n Minh N1 số tiền nợ gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi theo quy đ nh pháp luật.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, b đơn ông Nguyễn Văn T3 có đơn kháng cáo với nội dung yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, anh không đồng ý liên đới cùng bà T2 trả nợ cho ch H và yêu c u hủy Quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm, b đơn bà Nguyễn Ng c T2 v n giữ nguyên yêu c u kháng cáo. Bà T2 xác đ nh chỉ nợ anh N1 số tiền vốn 50.00.000 đồng nhưng sau đó bà không có tiền đóng lãi nên cuối năm 2021 N1 cộng vốn, lãi bà nợ tổng số tiền là 280.000.000 đồng. Nay bà chỉ đồng ý trả cho N1 số tiền 280.000.000 đồng. Từ trước đến nay bà không quen biết và vay mượn tiền ch H. Biên nhận ngày 27/3/2022 do N1 đe d a dùng vũ lực ép bà viết biên nhận nợ, bà không có nợ ch H 6.300.000.000 đồng nên không đồng ý trả theo yêu c u của ch H.

Ông T3 có đơn xin xét xử v ng mặt và có ý kiến v n giữ nguyên yêu c u kháng cáo. Ông T3 không đồng ý liên đới cùng bà T2 trả nợ cho ch H số tiền 6.300.000.000 đồng, tiền lãi 648.900.000 đồng. Yêu c u hủy Quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh đối với các thửa đất số 80, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.885,7m2 và thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.390,3m2, có cùng mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, t a lạc tại xã T, huyện B (nay là th xã B), tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tài sản trên là tài riêng của ông T3 do ông T3 được cha tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Người đại diện hợp pháp ch H: Không đồng ý yêu c u kháng cáo của ông T3, bà T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ch H trước đó không quen biết bà T2 đến tháng 6/2021 khi N1 chuyển nợ số tiền 2.200.000.000 sang cho ch H và giữa H, T2, N1 có gặp nhau thống nhất chuyển nợ, bà T2 hứa thời hạn 1 tháng trả tiền cho ch H. Sau đó nhiều l n cho bà T2, ông T3 tiếp tục mượn số tiền 4.100.000.000 đồng của ch H. Việc mượn tiền không lập biên nhận, không thế chấp tài sản do trong thời điểm d ch Covid 19, ch T2 giúp đ rất nhiều người có hoàn cảnh khó khăn. Mục đích cho mượn để bà T2, ông T3 mua thuốc tưới mít. Biên nhận nợ bà T2 lập ngày 27/3/2022 là biên nhận xác nhận nợ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Số tiền 6.300.000.000 đồng tiền có nguồn gốc của ch H. Trong đó N1 trực tiếp cho ông T3, bà T2 mượn 2.200.000.000 đồng đến tháng 6/2021 anh N1, ch H, bà T2 thỏa thuận chuyển nợ từ N1 sang cho H và thỏa thuận này không có lập văn bản. Từ tháng 6/2021 đến tháng 12 năm 2021 Huỳnh nhiều l n cho bà T2, ông T3 mượn số tiền 4.100.000.000 đồng nhưng do tin tưởng bà T2, ông T3 nên ch H không lập biên nhận và không thế chấp tài sản. Việc bà T2 ký biên nhận xác nhận nợ ngày 27/3/2022 là hoàn toàn tự nguyện, đúng ý chí các bên, không ai ép buộc. B đơn không có thiện chí trả nợ cho nguyên đơn và có dấu hiệu tẩu tán tài sản nh m trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ch H. Do đó, đề ngh không chấp nhận yêu c u kháng cáo của ông T3, bà T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm và giữ nguyên Quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh đối với các thửa đất số 80, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.885,7m2 và thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.390,3m2 do ông T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy đ nh của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến xét xử phúc thẩm.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đ nh về mức, thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu c u một ph n yêu c u kháng cáo của bà Nguyễn Ng c T2. Chấp nhận yêu c u kháng cáo của ông Nguyễn Văn T3. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh.

Buộc bà T2 có trách nhiệm trả cho ch H số tiền vay 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng.

Hủy bỏ Quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh đối với các thửa đất số 80, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.885,7m2 và thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.390,3m2 do ông T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà T2 phải ch u án phí dân sự sơ thẩm b ng số tiền 114.948.900 đồng và các đương sự ông T3, bà T2 không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1 Về thủ tục tố tụng: B đơn ông Nguyễn Văn T3, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tr n Minh N1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử v ng mặt;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ch Phan Nguyễn Hoa T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư ông Tr n Vũ T1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan luật sư ông Tr nh Hữu B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ l n thứ hai nhưng v ng mặt không lý do. Căn cứ Điều 288, Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử v ng mặt đối với các đương sự và người tham gia tố tụng khác.

2 Ch Tr n Th Ng c H khởi kiện yêu c u bà T2, ông T3 trả số tiền cho mượn 6.300.000.000 đồng theo biên nhận xác nhận nợ ngày 27/3/2022 do bà T2 viết, ký tên. Theo ch H, anh N1 thừa nhận số tiền 6.300.000.000 đồng bà T2 nợ có nguồn gốc của ch H. Trong đó, có khoảng tiền 2.200.000.000 đồng năm 2020, năm 2021 ch H đưa nhiều l n cho N1 (em ruột ch H) mượn và N1 đưa số tiền 2.200.000.000 đồng cho bà T2 mượn. Sau đó, đến tháng 6/2021 giữa ch H, anh N1 và bà T2 có gặp nhau chốt nợ và bàn giao nợ. Ba bên đã thỏa thuận thống nhất bà T2 không còn nợ N1 mà nợ ch H số tiền 2.200.000.000 đồng. Việc thỏa thuận này không lập văn bản. Sau đó, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2021 bà T2 tiếp tục hỏi mượn ch H nhiều l n tiền m i l n từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, đến cuối năm 2021 tổng số tiền bà T2 mượn ch H b ng 4.100.000.000 đồng, các l n mượn đều không có lập biên nhận. Mục đích bà T2 mượn tiền để mua phân tưới mít và chi tiêu trong gia đình. Khi ký biên nhận chốt nợ ngày 27/3/2022 bà T2 cam kết trong thời hạn 03 tháng sẽ trả tiền cho ch .

Xét giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022 có nội dung “Tôi tên Nguyễn Ng c T2. Hôm nay là 27 tháng 3 năm 2022. Hôm nay tôi có mượn số tiền sáu tỉ ba trăm triệu đồng của Tr n Th Ng c H. Tôi hứa sau 3 tháng tôi sẽ trả đủ số tiền là sáu tỉ ba trăm triệu đồng”. Cuối văn bản có chữ ký và chữ viết h tên của bên cho vay ch Tr n Th Ng c H và bên vay là bà Nguyễn Ng c T2. Bà T2 thừa nhận giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022 là do bà viết, chữ ký và dấu lăn tay dưới mục bên vay là chữ ký và dấu lăn tay của bà và không yêu c u giám đ nh chữ ký, chữ viết trong giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022. Bà T2 cho r ng từ trước đến nay bà không biết ch H và không mượn tiền ch H. Bà T2 thừa nhận chỉ có nợ N1 số tiền 50.000.000 đồng nhưng do không cso tiền đóng lãi nên N1 gộp vốn, lãi thành số tiền 280.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả tiền vay cho anh N1 số tiền 280.000.000 đồng và lãi phát sinh nhưng anh N1 không thừa nhận lời trình bày của bà T2 và bà T2 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của bà là có căn cứ. Bà T2 cho r ng biên nhận xác nhận nợ lập ngày 27/3/2022 là không tự nguyện mà do anh N1 ép buộc, đe d a bà ký tên vào, bà có báo sự việc với công an ấp nhưng không có lập biên bản sự việc. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh đối với anh Nguyễn Hoàng H1 – công an viên phụ trách ấp T thể hiện trong năm 2022 không nhớ rõ cụ thể vào ngày tháng nào do bà T2 nhiều l n điện thoại cho anh để báo có người gây rối chứ không có báo b ai ép viết biên nhận. Ngoài lời trình bày, bà T2 cũng không có chứng cứ chứng minh bà b ép ký tên vào giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022. Do đó, án sơ thẩm buộc bà T2 có nghĩa vụ trả cho ch H số tiền nợ 6.300.000.000 đồng là phù hợp nên yêu c u kháng cáo của bà T2 là không có cơ sở chấp nhận.

3 Về tiền lãi: Theo giấy xác nhận nợ ngày 27/3/2022 thể hiện hai bên không thỏa thuận lãi, thời hạn trả tiền là 03 tháng. Ch H yêu c u lãi suất 10/%/năm và tính lãi từ ngày 27/6/2022 đến ngày 08/8/2023 là 13 tháng 12 ngày tương đương số tiền 700.686.000 đồng nhưng ch H chỉ yêu c u số tiền 648.900.000 được án sơ thẩm chấp nhận là có lợi cho bà T2 và ch H không kháng cáo bản án sơ thẩm. Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 5 Ngh quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng d n áp dụng một số quy đ nh của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm án sơ thẩm xác đ nh mức lãi suất 10/%/năm và tính lãi từ ngày 27/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm b ng số tiền 648.900.000 là có căn cứ.

4 Về trách nhiệm liên đới: Theo đơn xác nhận của trưởng ban N4, xã T ngày 25/12/2023 thể hiện nghề nghiệp vợ chồng ông T3, bà T2 làm ruộng. Tại phiên tòa, các đương sự thừa nhận trong khoảng gian năm 2021, năm 2022 ông T3, bà T2 không có tạo lập tài sản mới. Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn thì giữa nguyên đơn, b đơn trước đó không quen biết nhau, đến tháng 6/2021 N1 bàn giao số tiền nợ 2.200.000.000 đồng sang ch H và bà T2 hứa sẽ trả tiền trong thời hạn 1 tháng, nội dung thỏa thuận không lập văn bản. Tuy nhiên, sau đó bà T2 không trả tiền nhưng ch H tiếp tục cho bà T2 mượn nhiều l n tiền và m i l n cho mượn từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, đến cuối năm 2021 tổng số tiền bà T2 mượn thêm của ch H b ng 4.100.000.000 đồng. Số tiền cho mượn rất lớn trong thời gian ng n và việc mượn tiền không lập biên nhận, không tính lãi, không thế chấp tài sản đảm bảo. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp ch H cho r ng thời điểm trên tuy d ch bệnh phức tạp nhưng do bà T2 c n tiền để trang trãi gia đình và mua phân tưới mít nên ch H giúp đ bà T2. Trong khi đó, vào thời điểm nêu trên, d ch bệnh C đang diễn biến phức tạp trên đ a bàn tỉnh Vĩnh Long, đặc biệt th xã B liên tục áp dụng giãn cách xã hội theo Chỉ th 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 và Chỉ th 16/CT- TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống d ch Covid 19 trong thời gian dài m i hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân chỉ tập trung cho nhu c u cấp thiết và chống d ch. Bà T2 không thể c n số tiền lớn trong một thời gian ng n chỉ để sử dụng vào mục đích nh m đáp ứng nhu c u thiết yếu của gia đình, cải tạo vườn mít. Đồng thời, ch H không chứng minh được bà T2 dùng tiền để tạo lập, mua s m tài sản cho gia đình bà T2, ông T3. Bên cạnh đó, lời trình bày của nguyên đơn cũng như b đơn có nhiều điểm bất hợp lý về giao d ch vay tiền: Nguyên đơn cho r ng biên nhận lập ngày 27/3/2022 số tiền 6.300.000.000 đồng là biên nhận xác nhận nợ số tiền vay trước đó gồm bà T2 vay N1 2.200.000.000 đồng và bà T2 mượn ch H số tiền 4.100.000.000 đồng nhưng theo nội dung biên nhận bà T2 ghi “Hôm nay tôi có mượn số tiền sáu tỉ ba trăm triệu đồng của Tr n Th Ng c H” và theo đơn tố giác tội phạm ch H gửi cho cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện “ngày 27/3/2022 ch H có cho bà T2 vay số tiền 6.300.000.000 đồng, thời hạn vay 3 tháng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận” ( BL 270) .

Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì “vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc các giao dịch khác phù họp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25 và 26 của Luật này; vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”. Như vậy, theo quy đ nh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trách nhiệm liên đới của vợ, chồng được quy đ nh trong các trường hợp cụ thể và c n phải chứng minh.

Ch H căn cứ biên nhận ngày 27/3/2022 khởi kiện yêu c u ông T3 liên đới cùng bà T2 trả số tiền 6.300.000.000 đồng nhưng biên nhận do cá nhân bà T2 viết, ký tên. Ch H cho r ng bà T2 mượn tiền để chi tiêu gia đình và mua phân tưới mít và nhiều l n đến nhà bà T2 giao tiền có gặp ông T3 nhưng ch H không thông báo cho ông T3 biết việc bà T2 mượn tiền và không buộc ông T3 ký tên vào biên nhận nợ. Ngoài ra, ch H cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh được việc vay tiền của bà T2 nh m đáp ứng nhu c u thiết yếu hoặc việc vay tiền này phù hợp với các quy đ nh về đại diện của vợ chồng trong các giao d ch do một bên thực hiện và chứng cứ chứng minh ông T3 biết, sử dụng số tiền bà T2 mượn của ch H. Do đó, mặc dù là khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng không đủ cơ sở buộc ông T3 có trách nhiệm liên đới với bà T2. Vì vậy, ông T3 kháng cáo không đồng ý liên đới cùng bà T2 trả cho ch H số tiền vay 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

5 Về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Ông T3 kháng cáo yêu c u hủy quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh vì thửa đất số 80 và thửa số 81 là tài sản riêng của cá nhân ông do ông được cha ruột là ông Nguyễn Văn Q tặng cho theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 26/6/2012, ông không có nợ ch H nên buộc ông ch u trách nhiệm đối với tài sản riêng của ông. Xét tại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 26/6/2012 thể hiện ông Nguyễn Văn Q tặng cho ông Nguyễn Văn T3 thửa đất số 830, 831, 832, tờ bản đồ số 01, diện tích 6.580m2, đất t a lạc tại ấp T, xã T, th xã B, giá tr quyền sử dụng đất là cha cho con ruột và được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, đến ngày 15/10/2012 ông Nguyễn Văn T3 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 81, diện tích 2.390,3m2 và thửa đất số 80, diện tích 1.885,7m2. Tại công văn số 6111/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 05/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V có nội dung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký cấp ngày 15/10/2012, số phát hành BK 803054, thửa đất số 80, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.885,7m2 và số phát hành BK 803055, thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.390,3m2, có cùng mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, t a lạc tại xã T, huyện B (nay là th xã B), tỉnh Vĩnh Long đều thể hiện tên ông Nguyễn Văn T3. Trong quá trình sử dụng đất ông T3 không có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung nên chưa có cơ sở để xác đ nh quyền sử dụng đất thửa 80, 81 là tài sản chung của ông T3 và bà T2. Do ông T3 không có trách nhiệm liên đới trả nợ cùng bà T2 nên ch H yêu c u áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” theo Điều 126, Điều 136 của Bộ luật tố tụng dân sự là không phù hợp nên không được chấp nhận. Vì vậy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 138 của Bộ luật tố tụng dân sự hủy bỏ quyết đ nh áp dụng khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh đối với thửa đất số 81, diện tích 2.390,3m2 và thửa đất số 80, diện tích 1.885,7m2, toạ lạc tại ấp T, xã T, th xã B do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ch Tr n Th Ng c H được nhận lại số tiền đã nộp bảo đảm 125.715.000 đồng và lãi suất theo quy đ nh tại sổ tiết kiệm số AD 00022545631 của Ngân hàng N3 – Chi nhánh B1.

Án phí dân sự:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà T2 phải ch u án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải có nghĩa vụ trả cho ch H là 6.948.900.000 đồng = 112.000.000 đồng + 0.1% x (6.948.900.000 đồng – 4.000.000.000 đồng) = 114.948.900 đồng.

Ông T3 không phải ch u án phí dân sự sơ thẩm.

Ch H phải ch u án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đối với yêu c u khởi kiện không được chấp nhận.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bà T2, ông T3 không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.

7 Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm về đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H về việc yêu c u bà Nguyễn Ng c T2 và ông Nguyễn Văn T3 trả 03 tháng tiền lãi suất không có kháng cáo, không kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 29 của Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đ nh về mức, thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một ph n yêu c u kháng cáo của b đơn bà Nguyễn Ng c T2, chấp nhận yêu c u kháng cáo của b đơn ông Nguyễn Văn T3. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2023/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng Điều 138, Điều 139, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5 Ngh quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng d n áp dụng một số quy đ nh của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tuyên xử:

1. Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H.

Buộc bà Nguyễn Ng c T2 có nghĩa vụ trả cho ch Tr n Th Ng c H số tiền vốn vay 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng, tổng cộng vốn vay và lãi là 6.948.900.000 đồng (sáu t chín trăm bốn mươi tám triệu chín trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại khỏan 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Không chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H về việc yêu c u buộc ông Nguyễn Văn T3 có trách nhiệm liên đới cùng bà Nguyễn Ng c T2 trả tiền vay vốn 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng, tổng cộng vốn vay và lãi là 6.948.900.000 đồng.

3. Chấp nhận yêu c u phản tố của ông Nguyễn Văn T3 về việc không có trách nhiệm liên đới cùng bà T2 trả tiền vay vốn 6.300.000.000 đồng và tiền lãi 648.900.000 đồng cho ch H và hủy quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh.

4. Hủy Quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh đối với thửa đất số thửa đất số 81, diện tích 2.390,3m2 và thửa đất số 80, diện tích 1.885,7m2 , toạ lạc tại ấp T, xã T, th xã B do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

5. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì quyết đ nh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 53/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân th xã Bình Minh trong quá trình giải quyết vụ án b hủy bỏ.

6. Ch Tr n Th Ng c H được nhận lại số tiền đã nộp bảo đảm 125.715.000 đồng và lãi suất theo quy đ nh tại sổ tiết kiệm số AD 00022545631 của Ngân hàng N3 – Chi nhánh B1.

7. Án phí dân sự:

Ch Tr n Th Ng c H phải ch u án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 57.373.000 đồng theo biên lai số 12827 ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự th xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ch H được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 57.073.000 đồng.

Bà Nguyễn Ng c T2 phải ch u án phí dân sự sơ thẩm là 114.948.900 đồng (Một trăm mười bốn triệu chín trăm bốn mươi tám ngàn chín trăm đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 2031 ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự th xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Bà T2 còn phải nộp tiếp số tiền 114.648.900 đồng.

Ông Nguyễn Văn T3 không phải ch u án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông T3 tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 1951 ngày 10 tháng 7 năm 2023 và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 2030 ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự th xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

8. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm về đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của ch Tr n Th Ng c H về việc yêu c u bà Nguyễn Ng c T2 và ông Nguyễn Văn T3 trả 03 tháng tiền lãi suất không có kháng cáo, không kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

9. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành án theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cư ng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ