- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Tàng trữ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 255/2021/HSST Ngày: 15-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Mạnh Cường
2. Bà Phan Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Đường Thị Thanh Thủy– Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm lý số: 187/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ; sinh năm: 1993; Nơi sinh: tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Ấp Huê 2A, xã VT, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: Nhà số 1059 tỉnh lộ X, khu phố 2, phường Y, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1962 (đã chết); bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; vợ bị cáo tên: Lê Thị Thanh Th, sinh năm: 1999; con bị cáo tên Lê Kiều Phương L, sinh năm: 2017 và Lê Hoàng Th, sinh năm: 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 26/8/2019, bị Công an phường A, quận Thủ Đức (thành phố Thủ Đức) ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa đóng tiền phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Minh Đ (vắng mặt)
Địa chỉ: 25/3 khu phố 6, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ đã bắt đầu sử dụng ma túy đá từ tháng 8/2019. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/02/2021, Đ điều khiển xe mô tô biển số XYtừ nhà số Nhà số 1059 tỉnh lộ X, khu phố 2, phường Y, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực đường Phạm Văn Đồng, quận Gò Vấp để gặp người phụ nữ tên C mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng để về sử dụng. Sau khi mua ma túy xong, Đ giấu ma túy vào vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và để vỏ thuốc lá hiệu Jet (bên trong chứa ma túy) trong hộc phía trước, bên trái xe mô tô biển số XY, rồi điều khiển xe về. Đến khoảng 01 giờ 55 phút cùng ngày, khi Đ điều khiển xe mô tô biển số XYđến gầm cầu vượt Gò Dưa, Quốc lộ 1A, khu phố 4, phường TB, thành phố Thủ Đức thì bị Công an phường TB kiểm tra bắt quả tang Đ cùng với ma túy trong hộc phía trước bên trái xe Đ điều khiển, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói ma túy (được ký hiệu mẫu m).
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số 1107/KLGĐ-H ngày 09/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3189 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức đang thu giữ:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 1107/2021, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Đ, Đại úy D, E và hình dấu Công an phường AB, thành phố Thủ Đức. Bên trong chứa mẫu chứa vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,2573gam (theo Kết luận giám định số 1107/KLGĐ-H ngày 09/02/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh);
- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, bị nứt màn hình, số IMEI1: 866977032530471, số IMEI2 866977032530463;
- 01 xe mô tô biển số XYdo anh Trần Minh Đ đứng tên sở hữu. tháng 3/2018, anh Đ bán xe lại cho một người không rõ lai lịch và không làm thủ tục sang tên. Nguyễn Văn Đ khai ngày 25/01/2021, Đ mượn xe của người phụ nữ tên Kiều (không rõ lai lịch) và đến ngày 04/02/2021 Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội, Kiều không biết.
Cáo trạng số 154/CT-VKSTPTĐ ngày 12/5/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi vụ 1107, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Đ, đại úy Huỳnh Thanh Thảo, Bùi Kim Hanh, có khối lượng còn lại sau khi đã phục vụ giám định là 0,2573gam Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, bị nứt màn hình, số IMME1: 866977032530471, Số IMEI2 866977032530463; Thông báo tìm kiếm chủ sở hữu đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki-Hayate, biển số XY, số khung RLSCF4EH0A-0116062, số máy F4A5-18002.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn, hối cải và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Minh Đức vắng mặt;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản Bắt người phạm tội quả tang lập ngày 04/02/2021 của Công an phường TB, Công an thành phố Thủ Đức; Kết luận giám định số 1107/KLGĐ-H ngày 09/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 55 phút ngày 04/02/2021, tại gầm Cầu vượt T, Quốc lộ KL, Khu phố 4, phường TB, thành phố Thủ Đức. Công an phường TB, thành phố Thủ Đức bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,3189 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi trên của Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người có tiền sử sử dụng ma túy và từng bị bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên biết rất rõ tác hại của ma túy nhưng do đua đòi ăn chơi và muốn được thỏa mãn nhu cầu thấp kém của bản thân nên đã đi vào con đường sử dụng trái phép và lạm dụng chất ma túy. Hành vi tàng trữ trái phép 0,3189 gam ma túy loại Methamphetamine do bị cáo Nguyễn Văn Đ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và lạm dụng chất ma túy, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người xung quanh. Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo đầy đủ, nhận tội và có thái độ ăn năn hối lỗi. Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội thì mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa cho xã hội.
Đối với người phụ nữ tên Út bán ma túy cho Đ, Cơ quan điều tra - Công an thành phố Thủ Đức tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau, là phù hợp.
Xử lý vật chứng:
- Mẫu vật còn lại sau giám định là 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi vụ 1107, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Đ, đại úy Huỳnh Thanh Thảo, Bùi Kim Hanh, có khối lượng còn lại sau khi đã phục vụ giám định là 0,2573gam Methamphetamine. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET bị cáo dùng để chứa ma túy nên tịch thu, tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, bị nứt màn hình, số IMME1: 866977032530471, Số IMEI2 866977032530463 bị cáo không sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
- Đối với 01 xe mô tô biển số XY. Theo kết quả xác minh tại Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an thành phố Thủ Đức thì anh Trần Minh Đức là chủ sở hữu, đăng ký ngày 13/01/2011. Anh Đức khai anh mua và sử dụng xe mô tô nêu trên từ năm 2011 và đến tháng 3/2018 thì bán lại cho một người không rõ lai lịch, do xe bị mất giấy tờ nên khi bán không làm giấy tờ mua bán, anh không có yêu cầu gì đối với xe mô tô biển số XYtrên. Trong vụ án này, bị cáo Đ khai mượn của Kiều (không rõ lai lịch) nên giao xe mô tô biển số XYcho Chi cục Thi ành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trong thời hạn 02 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách nhà Nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 79/QĐ-VKS ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Phiếu nhập kho số NKT2021/153 ngày 12/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/02/2021.
2. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi vụ 1107, các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Đ, đại úy Huỳnh Thanh Thảo, Bùi Kim Hanh, có khối lượng còn lại sau khi đã phục vụ giám định là 0,2573g Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, bị nứt màn hình, số IMME1: 866977032530471, Số IMEI2 866977032530463;
- Giao Chi cục Thi ành án Dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo tìm kiếm chủ sở hữu đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki-Hayate, biển số XY, số khung RLSCF4EH0A-0116062, số máy F4A5-180022 trong thời hạn 02 tháng. Hết thời hạn trên không có người đến nhận thì tịch thu sung vào Ngân sách nhà Nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 79/QĐ-VKS ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Phiếu nhập kho số NKT2021/153 ngày 12/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án NDTP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Công an TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |