- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tuyết T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Bị cáo Phan Tuyết T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16-10-2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 255/2021/HS-PT Ngày: 16 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Long
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Trường
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.
Vào ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 285/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Phan Tuyết T và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Phan Tuyết T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HSST ngày 20-3-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo: Phan Tuyết T, sinh ngày 14-10-1994 tại Đà Nẵng. Nơi đăng ký NKTT: thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phan Công H và bà Văn Thị Lệ T; có chồng là Phạm Đình V (đã ly hôn) và có 01 con chung (sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16-10-2020 đến nay; có mặt.
Nhân thân: Tại Quyết định số: 181/QĐ-XPVPHC ngày 04-4-2018 của Công an quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng; chấp hành nộp phạt xong ngày 09-4-2018.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Chế Giang S, Công ty Luật TNHH MTV N, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: quận T, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
- Ngoài ra trong vụ án còn có 02 bị cáo là: Nguyễn Đức Vũ L và Hoàng Châu V không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21h30 ngày 16-10-2020, tại khu vực trước nhà số 30 đường B 1, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Công an thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang Phan Tuyết T, Nguyễn Đức Vũ L vừa có hành vi lén lút mua bán với Hoàng Châu V; với tang vật mua bán nghi là ma túy được thu giữ là: 01 (một) gói nylong bên trong chứa 50 viên nén màu vàng nhạt, một mặt có in hình mặt khỉ, (Ký hiệu A).
Vào lúc 00h40 ngày 17-10-2020, Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành khám xét nơi ở của Phan Tuyết T tại số 30 đường B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Tang vật thu giữ gồm:
- 01 (một) CMND số 201653496 mang tên Phan Tuyết T; 01 (một) cân điện tử màu đen; 01 (một) CMND số 201690361 mang tên Nguyễn Đức Vũ L; 01 (một) xe mô tô BKS: 43C1- 805.49; 01 (một) xe mô tô BKS: 43D1- 877.06; 01 (một) xe ô tô BKS: 43A- 557.97; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 049740, BKS: 43C1- 805.49; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 064782, BKS: 43D1- 877.06; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 0935.04, BKS: 43A- 557.97;
- 01 (một) gói nylong kích thước (9x6)cm, bên trong chứa tinh thể rắn, màu trắng; 01 (một) gói nylong kích thước (9x6)cm, bên trong chứa 12 (mười hai) gói nylong kích thước khác nhau, bên trong mỗi gói đều chứa tinh thể rắn, màu trắng. (Ký hiệu B1);
- 06 (sáu) gói nylong bên trong chứa 430 viên nén màu vàng nhạt, một mặt có in hình mặt khỉ. (Ký hiệu B5);
- 01 (một) gói nylong kích thước (9x6)cm, bên trong chứa 36 viên nén màu vàng. (Ký hiệu B4);
- 01 (một) gói nylong kích thước (12x7)cm, bên trong chứa 38 viên nén màu cam. (Ký hiệu B3);
- 01 (một) gói nylong kích thước (12x7)cm, bên trong chứa 33 viên nén màu xanh. (Ký hiệu B2) và 50 (năm mươi) bao nylong màu trắng chưa qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 309/GĐ-MT ngày 23-10-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Mẫu các viên nén màu xanh nhạt, màu xanh, màu cam, màu vàng trong các gói niêm phong ký hiệu A, B2, B3, B4, B5 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng các viên nén, mẫu A: 21,073 gam; mẫu B2: 12,373 gam; mẫu B3: 14,744 gam; mẫu B4: 12,581 gam; mẫu B5: 180,81 gam.
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng kí hiệu B1 gửi giám định là ma túy loại Ketamin, khối lượng tinh thể mẫu B1: 69,290 gam.
Quá trình điều tra xác định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 6-2020 đến ngày 16-10-2020, thông qua mạng xã hội Facebook, Phan Tuyết T nhiều lần mua ma túy của đối tượng có Nickname „„N” ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ nhân thân, lai lịch) về cất giữ nhằm mục đích bán lại cho nhiều đối tượng khác kiếm lời, bị cáo T chỉ nhớ hai lần cụ thể như sau:
Lần 1: Vào khoảng tháng 9-2020, bị cáo T mua 40 (bốn mươi) viên thuốc lắc và 20 (hai mươi) gam ma túy Ketamin với giá 20.800.000đ (Hai mươi triệu, tám trăm ngàn đồng) và hẹn giao ma túy tại Đà Nẵng. Sau đó, có một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) mang số ma túy trên đến giao cho T và bị cáo giao tiền cho người đỏ. Sau đó, bị cáoTrang lấy ma túy bán cho các đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) thu lợi từ 120.000đ đến 130.000đ/01 viên ma túy thuốc lắc và 1.000.000đ/10 gam ma túy Ketamin.
Lần 2: Vào ngày 15-10-2020, bị cáo T mua 500 (năm trăm) viên thuốc lắc và 100 (một trăm) gam ma túy Ketamin với giá 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) và hẹn giao ma túy tại Đà Nẵng; đến trưa ngày 16-10-2020, có một đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) mang số ma túy trên đến giao và nhận tiền. Bị cáo T cất giấu số ma túy trên vào trong cốp xe mô tô BKS: 43C1-805.49 cùng với số ma túy còn lại của những lần mua trước đó.
Đến khoảng 14h30, Nguyễn Đức Vũ L - là bạn trai của T đến phòng trọ của T chơi. Lúc này, Hoàng Châu V sử dụng mạng xã hội Zalo gọi vào điện thoại của L nhưng T nghe máy. V hỏi mua của T 50 (năm mươi) viên thuốc lắc, hai bên thỏa thuận giá 11.500.000đ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) và hẹn tối V đến phòng trọ của T lấy ma túy. Khoảng 19h00 cùng ngày, T mở cốp xe mô tô BKS: 43C1- 805.49 ra lấy 50 (năm mươi) viên thuốc lắc bỏ vào trong gói thuốc hiệu White Horse rồi để trên tủ nước hoa trong phòng ngủ. Đến khoảng 21h00 cùng ngày, V sử dụng mạng xã hội Facebook gọi vào máy điện thoại của L thì T nghe máy, V nói gần đến, T nghe máy xong nói với L “lát nữa V đến mua ma túy có gì nhờ chồng ra mở cửa giúp vợ cho V vào”, L đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe mô tô BKS: 43C1-772.18 đến thì L ra mở cửa, L và V cùng vào phòng ngủ gặp T. V nói ma túy ở đâu, T chỉ vào gói thuốc hiệu White Horse để trên tủ nước hoa, V đi đến mở gói thuốc ra nhìn thấy ma túy V đóng lại, V lấy số tiền 11.500.000 đồng để trên tủ nước hoa gần gói ma túy rồi đến ngồi nói chuyện với T và L. Một lúc sau, V đến lấy gói thuốc hiệu White Horse bên trong có chứa ma túy cầm ở tay phải để ra về. Khi L mở cửa cho V đi ra thì bị Công an thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt giữ. Mục đích V mua ma túy là để sử dụng và bán cho người khác.
Ngoài ra, vào khoảng tháng 7-2020, Hoàng Châu V sử dụng mạng xã hội Facebook liên hệ với Phan Tuyết T hỏi mua 10 (mười) viên thuốc lắc, hai bên thỏa thuận giá 3.000.000đ (ba triệu đồng) và hẹn đến nhà trọ của T để giao dịch. Sau đó, V đến lấy 10 (mười) viên thuốc lắc và đưa cho T số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). V sử dụng hết 08 viên còn 02 (hai) viên, V bán cho một đối tượng nữ không rõ nhân thân lai lịch với giá 550.000 đồng.
[2] Tại n án hình s sơ thẩm s 20/2021/HSST ngày 20-3-2021, Tòa án nhân dân thành ph Đà Nẵng đ quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Phan Tuyết T, Nguyễn Đức Vũ L và Hoàng Châu V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52: điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt Bị cáo Phan Tuyết T: 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16-10-2020.
Phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt về các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[3] Kháng cáo:
Ngày 03 - 04- 2021, bị cáo Phan Tuyết T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phan Tuyết trang giữ nguyên kháng cáo, trình bày lý do kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là do có hoàn cảnh khó khăn, một mình nuôi con còn nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa có ý kiến: Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội: Trong khoảng thời gian từ tháng 6-2020 dến ngày 16-10-2020, thông qua mạng xã hội facebook, Phan Tuyết T đã nhiều lần lén lút mua ma túy của đối tượng có Nickname “N” ở Thành phố Hồ Chí Minh về bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm mục đích kiếm lời trong đó bị cáo T khai chỉ nhớ hai lần cụ thể: Lần 1 mua 40 (bốn mươi) viên thuốc lắc và 20 (hai mươi) gam ma túy Ketamin với giá 20.800.000 đồng); Lần 2 mua 500 (năm trăm) viên thuốc lắc và 100 (một trăm) gam ma túy Ketamin với giá 125.000.000 đồng. Sau khi mua được số lượng ma túy nói trên, bị cáo T đã bán cho nhiều đối tượng khác nhau trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (nhung không rõ nhân thân lai lịch), trong đó có bán cho bị cáo Hoàng Châu VT 02 (hai) lần; Hoàng Châu V thừa nhận có mua ma túy thuốc lắc của T hai lần nhằm mục đích bán lại người khác và sử dụng cá nhân. Tổng khối lượng ma túy mà bị cáo T đã mua bán là: 241,581 gam ma túy loại MDMA và 69,290 gam ma túy loại Ketamin.
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng Hành đã quyết định bị cáo Phan Tuyết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Phan Tuyết T:
Bị cáo Phan Tuyết T phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy đã mua bán là: 241,581 gam ma túy loại MDMA và 69,290 gam ma túy loại Ketamin, thuộc tình tiết định khung hình phạt tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, đồng thời thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (từ 02 lần trở lên) là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị cáo đã từng bị Công an quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 04-4-2018.
Bị cáo T đã được Bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đã có lợi cho bị cáo; đồng thời đã xem xét nhân thân bị cáo T là phụ nữ đơn thân (đã ly hôn) có con còn nhỏ, có bà Cố nội được phong tặng “Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng”, Chú ruột là liệt sĩ, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 20 năm tù là phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
Đối với các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Tuyết T; giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HSST ngày 20-3-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
2. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52: điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt Bị cáo Phan Tuyết T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16-10-2020.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 20-3-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng; - Cục THA dân sự thành phố Đà Nẵng; - Công an thành phố Đà Nẵng; - Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng; Bị cáo (TTG tống đạt cho bị cáo); - Người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Hòa Khương (thay thông báo); - Lưu HCTP, hồ sơ vụ án (ĐTT-...). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Long |