vanban.org

Bản án 255/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Thị Thu Th và Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn V: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Võ + ĐP - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Thị Thu Th và Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2020/HSST
Ngày 20-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch

Ông Nguyễn Huy Giáp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 271/2020/TLST-HS ngày 27/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/QĐXXST-HS ngày 09/11/2020 đối với:

1. Họ và tên: Nguyễn V ; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không

Sinh năm 1968; tại: Thừa Thiên Huế.

Nơi cư trú: xã Q, Trảng Bom, Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 01/12.

Tiền án, Tiền sự: Không

Họ tên Cha: Nguyễn Đ, sinh năm: 1937 (chết).

Họ tên Mẹ: Bùi Thị H, sinh năm: 1937 (còn sống).

Gia đình có 12 anh em, lớn sinh năm 1959, nhỏ sinh năm 1983, bị cáo là con thứ sáu.

Vợ: Lê Thị Y, sinh năm 1967

Bị cáo có 04 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2000.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Nguyễn Hồng P; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không

Sinh năm 1987 tại: Đồng Nai.

Nơi cư trú: xã B, Trảng Bom, Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 8/12.

Tiền án, Tiền sự: Không

Họ tên Cha: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1952 (còn sống).

Họ tên Mẹ: Tạ Thị C, sinh năm: 1952 (còn sống).

Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư.

Vợ: Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1984.

Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Th ; Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: không

Sinh năm 1991; tại: Đồng Nai.

Nơi cư trú: xã B, Trảng Bom, Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 11/12.

Tiền án, Tiền sự: Không

Họ tên Cha: Nguyễn Thành P, sinh năm: 1963 (chết).

Họ tên Mẹ: Trương Thị Thanh N, sinh năm: 1965(còn sống).

Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Chồng: Nguyễn Như Q, sinh năm 1987 (đã ly hôn)

Bị cáo có 01 con, sinh năm 2011.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Họ và tên: Lê Ngọc T ; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không

Sinh năm 1975; tại: Thanh Hóa.

Nơi cư trú: xã B, Trảng Bom, Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.

Nghề nghiệp: phụ hồ. Trình độ học vấn: 11/12.

Tiền án, Tiền sự: Không

Họ tên Cha: Lê Gi, sinh năm: 1935 (còn sống).

Họ tên Mẹ: Phạm Thị N, sinh năm: 1946 (còn sống).

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út, chưa có vợ, con

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 26/7/2020, Nguyễn Hồng P, Lê Ngọc T và Nguyễn Thị Thu Th đến nhà Nguyễn V tại xã Q, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ngồi chơi với bà Lê Thị Y (vợ của V). Sau đó, V, P, T và Th rủ nhau đánh bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền. Hình thức như sau: các con bạc sử dụng 01 bộ bài Tây 52 lá, 01 mền vải có hình bông màu xanh- trắng kích thước khoảng 01m x 02m làm chiếu bạc. Người chia bài chia cho mình 10 lá bài, 03 con bạc còn lại mỗi người 09 lá bài, số bài còn lại để ở giữa chiếu bạc (gọi là nọc), người chia bài đánh 01 lá bài cho người bên cạnh (tính theo chiều chia bài), con bạc bên cạnh có thể ăn lá bài này nếu kết hợp với các lá bài trên tay tạo thành “phỏm” (có từ 03 lá bài trở lên có cùng giá trị hoặc đồng chất nối tiếp nhau) nếu không ăn thì phải bốc 01 lá bài từ nọc và tiếp tục đánh cho con bạc kế tiếp đảm bảo tổng số lá bài trên tay là 09 lá. Các con bạc đánh xoay 04 vòng thì sẽ kết thúc, hạ “phỏm” và tính tổng số điểm trên các lá bài còn lại để phân định thắng thua, người nào có số điểm ít nhất người đó thắng, còn lại là thua và phải trả tiền cho người thắng, cụ thể: người có số điểm thấp thứ hai chung cho người thắng 20.000 đồng, người thứ ba chung 40.000 đồng, người còn lại chung 60.000 đồng, trường hợp không có phỏm (cháy) thì phải chung cho người thắng 80.000 đồng, người thắng sẽ được quyền chia bài và đánh trước. Ngoài ra, con bạc bị ăn 01 lá bài đầu tiên sẽ phải trả cho người ăn lá bài đó 20.000 đồng, lá bài thứ hai phải trả 40.000 đồng, lá bài thứ ba sẽ phải trả 80.000 đồng và phải trả tiền thua bạc của các con bạc còn lại cho người thắng (đền làng), bị ăn lá bài ở vòng cuối cùng (chốt hạ) thì phải trả 80.000 đồng. Khi con bạc có “phỏm” và trừ “phỏm” ra không lẻ lá bài nào thì gọi là “ù” thì 03 con bạc còn lại mỗi người phải trả cho người “ù” 100.000 đồng và người “ù” tự bỏ ra 10.000 đồng đến 20.000 đồng vào 01 lọ thủy tinh để trên chiếu bạc để mua đồ ăn, nước uống phục vụ chung cho các con bạc. V, T, P Th đánh bạc đến 17 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Trảng Bom bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 mền vải kích thước khoảng 01 x 02m; tiền trên chiếu bạc 3.320.000 đồng; 01 lọ thủy tinh bên trong có 50.000 đồng; tiền trên người các con bạc: 7.310.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 xe mô tô biển số 60Z3-xxxx; 01 xe mô tô biển số 60X3-xxxx; 01 xe ô tô biển số 60A-512.xx.

Quá trình điều tra, xác định: Nguyễn V sử dụng 2.480.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt V thua 2.450.000 đồng, bị thu giữ 30.000 đồng; Nguyễn Hồng P mang theo 3.510.000 đồng và sử dụng 3.500.000 đồng để đánh bạc, P thắng 1.100.000 đồng, bị thu giữ 1.600.000 đồng trên chiếu bạc và 3.010.000 đồng trên người; Nguyễn Thị Thu Th mang theo và sử dụng 3.300.000 đồng để đánh bạc, Th thắng 590.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 590.000 đồng và trên người 3.300.000 đồng, Lê Ngọc T mang theo và sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, T thắng 700.000 đồng, bị thu giữ 1.100.000 đồng trên chiếu bạc và trên người 1.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

- Số tiền 10.680.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, đề nghị tịch thu sung công.

- 01 bộ bài tây 52 lá; 01 mền vải kích thước khoảng 01 x 02m; 01 lọ thủy tinh là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng.

- Đối với số tiền 10.000 đồng của Nguyễn Hồng P không sử dụng vào việc đánh bạc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 xe mô tô biển số 60Z3-3625; 01 xe mô tô biển số 60X3-3079; 01 xe ô tô biển số 60A-512.28, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp (Bút lục số 158-162)

Bản cáo trạng số: 284/CT-VKS-TB ngày 22/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Lê Ngọc T và Nguyễn Thị Thu Th về tội: “Đánh bạc” quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn V; Nguyễn Hồng P; Nguyễn Thị Thu Th; Lê Ngọc T mỗi bị cáo từ 20.000.000đồng đến 25.000.000 đồng. Và buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo hiểu rõ hành vi phạm tội của mình và mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố, từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ ngày 26/7/2020, tại xã Q, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Thị Thu Th và Lê Ngọc T thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “phỏm” với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.680.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Thị Thu Th và Lê Ngọc T đã phạm tội “Đánh bạc” quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng VKS đã truy tố và viện dẫn.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự trị an. Các bị cáo là người đã trưởng thành bản thân ý thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Nên khi quyết định hình phạt, có xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như:

- Về tình tiết tăng nặng: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Xử lý vật chứng:

- Số tiền 10.680.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung công.

- 01 bộ bài tây 52 lá; 01 mền vải kích thước khoảng 01 x 02m; 01 lọ thủy tinh là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng.

Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Thị Thu Th và Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn V: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu Th: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 10.680.000đồng (mười triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 mền vải kích thước khoảng 01 x 02m; 01 lọ thủy tinh.

(Theo biên lai thu tiền số 01744 và Biên bản giao nhận vật chứng cùng ngày 19/5/2020 của Chi cục Thi hành án huyện Trảng Bom).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn Hồng P, Nguyễn Thị Thu Th và Lê Ngọc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ