- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN MẠNH C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 107 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 255/2019/HS-ST Ngày: 28/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
Ông Nguyễn Viết Thắng
- Thƣ ký phiên toà: Ông Lê Quang Đạo - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyển Ngọc Hải - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 273/2019/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 252/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN MẠNH C – sinh năm:1980; Tên thƣờng gọi khác: không; HKTT và nơi ở: phố B, phƣờng H, quận K, Hà Nội ; Nơi ở: lang thang; Nghề nghiệp: không ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Mậu C; Con bà: Trịnh Thị Minh T; Vợ: Trịnh Thị P (có hai con sinh năm 2007 và năm 2012); Nhân thân: 01 tiền sự năm 1999 đi cơ sở giáo dục; 01 tiền án năm 1998 đã xóa TAND quận Hoàn Kiếm xử phạt 12 tháng tù về các tội” lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Danh chỉ bản số: 0335 ngày 22/9/2019 do công an quận Hai Bà Trƣng cấp; Bị cáo bị bắt ngày 22/9/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 20h30‟ ngày 22/09/2019, tổ công tác công an phƣờng Phố Huế đang làm nhiệm vụ tuần tra đến trƣớc số 179 Phố Huế, phƣờng Phố Huế, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì phát hiện đối tƣợng Nguyễn Mạnh C có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra C tự nguyện giao nộp với công an từ bàn tay trái 01 (một) gói nilon màu đỏ có kích thƣớc 01 cm x 1.5 cm chứa chất bột màu trắng, C khai là Heroin mua về để sử dụng cho bản thân.
C quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trƣng ra Quyết định trƣng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Mạnh C.
Tại bản kết luận giám định số: 6063/KLGĐ-PC0 ngày 01/10/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Nguyễn Mạnh C là Heroin, khối lượng: 0,120 gam.
Tại C quan điều tra, Nguyễn Mạnh C khai nhận: Khoảng 20h00„ ngày 22/09/2019 Nguyễn Mạnh C đi bộ ra đầu ngõ 424 Trần Khát Chân, Hà Nội; mua của một ngƣời đàn ông không quen biết 01(một) gói Heroin với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, C cầm ma túy ở lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đến vỉa hè trƣớc số 179 Phố Huế, phƣờng Phố Huế, Hai Bà Trƣng, Hà Nội thì bị tổ công tác Công an Phƣờng Phố Huế kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật thu giữ nêu trên.
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho C: C khai nhận không rõ nhân thân lai lịch, CQĐT đã tổ chức truy tìm nhƣng không làm rõ đƣợc nên không đủ căn cứ để xử lý.
Tại cáo trạng số: 281/CT-VKS ngày 18/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Mạnh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2019 tại khu vực trƣớc cửa nhà số 179 phố Huế, phƣờng Phố Huế, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Nguyễn Mạnh C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,120 gam Heroine.
Bị cáo nhận tội, xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ cáo trạng đã nêu là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Nguyễn Mạnh C với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,120 gam Heroine thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trƣng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2019 tại khu vực trƣớc cửa nhà số 179 phố Huế, phƣờng Phố Huế, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Nguyễn Mạnh C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,120 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo có 01 tiền án đã đƣợc xóa và 01 tiền sự đã hết thời hiệu. Đối với tiền án năm 1998 bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, khi xét xử bị cáo chƣa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 1 Điều 107 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 án tích này đƣợc coi nhƣ xóa.
Tại phiên tòa hôm nay cũng nhƣ tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý ma túy của Nhà nƣớc ta, tiếp tay cho các tội phạm về ma túy khác phát triển, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng do nghiện vẫn cố tình phạm tội. Bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: xét trong trƣờng hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.
Về biện pháp tƣ pháp:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tịch thu tiêu hủy 0,120 gam Heroine thu giữ của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Mạnh C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2019.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy đã niêm phong chứa 0,120 gam Heroine, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo.
(Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2019, tang vật số 66/20 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trƣng, thành phố Hà Nội )
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332; Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điểm a khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| NƠI NHẬN : - Bị cáo - Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trƣng - Công an Quận Hai Bà Trƣng - Chi cục THA dân sự Q. Hai Bà Trƣng - Lƣu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lại Nguyệt Ánh |