- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn S (Tên gọi khác: SL) phạm tội "Mua bán trái phép chất
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 254/2017/HSST. Ngày: 06/9/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Cao Đức
2. Ông Đoàn Văn Rỹ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền, Cán bộ Tòa án nhân
dân Quận 8.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá,
Kiểm sát viên.
Trong các ngày ngày 31 và ngày 06 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 242/2017/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:
Phan Văn S; (Tên gọi khác: SL); Giới tính: Nam; Sinh năm: 1963 tại Thành phố
Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 66A N, Phường Q, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 20/23 M, Phường W, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Phan Văn M (Chết) và bà Bùi Thị Đ (Chết); Vợ: Nguyễn Thị Kim Đ (Sinh năm: 1969); Có 05 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 16/6/2009 Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày 16/6/2009 (Bản án số: 242/HSST). Đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo chưa thi hành nộp phạt số tiền 3.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/3/2016 cho đến nay (Có mặt).
Người làm chứng:
1. Anh Lê Văn L, sinh năm: 1981; cư trú tại: 5/3 M, Phường Q, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
2. Chị Trương Thị Mỹ L, sinh năm: 1967; cư trú tại: 260/10 L, Phường Q, Quận A,
Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
3. Anh Phan Tiến Trung, sinh năm: 1954; cư trú tại: 184/3A L, Phường Q, Quận
A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Phan Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 truy tố hành vi phạm tội như
sau:
Lúc 12 giờ ngày 09/3/2016 tại trước nhà số 27B M, Phường Q, Quận A đội cảnh
sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 kết hợp với Công an Phường 15, Quận 8 nghi vấn Lê Văn L có liên đến ma túy nên kiểm tra, thì phát hiện thu giữ trên tay trái của L 01 đoạn ống nhựa màu đỏ bên trong chứa Heroine, tạm giữ của L 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0933.810.216 rồi đưa tất cả về trụ sở Công an Phường 15, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận để điều tra làm rõ.
Lúc 15 giờ ngày 09/3/2016, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an
Quận 8 kết hợp với Công an Phường 15, Quận 8 kiểm tra phòng cháy chữa cháy và hành chính nhà số 20/23 M, Phường Q, Quận A (nơi ở của Phan Văn S) thì phát hiện, thu giữ ở bàn thờ ông địa đặt ở phòng khách 01 đoạn ống nhựa màu đỏ bên trong chứa heroine, tạm giữ của S 01 điện thoại di động gắn sim số 0932.615.519 và số tiền 580.000 đồng rồi đưa tất cả về trụ sở Công an Phường 15, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.
Theo bản Kết luận giám định số 643/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Chất bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong có chữ ký
ghi tên Phan Văn S và hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 gửi đến giám định có trọng lượng 0,0256g (không phẩy không hai năm sáu gram) là chế phẩm Heroine.
Theo bản Kết luận giám định số 644/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Chất bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong có chữ ký
ghi tên Lê Văn L và hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 gửi đến giám định có trọng lượng 0,0873g (không phẩy không tám bảy ba gram) là chế phẩm Heroine.
Ngày 06/01/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có
Công văn số: 799/PC54- Đ6 giải thích từ ngữ trong Kết luận giám định số 643/KLGĐ-H và số 644/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Kết luận giám định số 643/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 như sau:
- Chất bột màu trắng trong một đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong có chữ ký
ghi tên Phan Văn S và hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0256g, loại Heroine.
Kết luận giám định số 644/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 như sau:
- Chất bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong có chữ ký
ghi tên Lê Văn L và hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0873g, loại Heroine.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận 8, Phan Văn S và Lê Văn L khai nhận:
Khoảng 08 giờ ngày 09/3/2016, Sáng đạp xe đến trước siêu thị Coop Mart đường T, Phường W, Quận A gặp và mua 06 tép heroine đựng trong 06 đoạn ống nhựa màu đỏ với giá 500.000 đồng của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) mang về rải dưới đất trước cửa nhà số 20/23 M, Phường Q, Quận A chờ có người đến mua thì bán lại với giá 100.000 đồng/tép và S đã bán được 04 tép. Vào khoảng 11 giờ ngày 09/3/2016 trong lúc S đang ở nhà số 20/23 M, Phường Q, Quận A thì Lê Văn L đến gặp Sáng hỏi mua 01 tép heroine với giá 100.000 đồng về sử dụng. Sáng nhận tiền rồi bảo L nhặt 01 tép Heroine đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ Sáng để sẵn ở bãi đất trống trước cửa nhà S địa chỉ số 20/23 M, Phường Q, Quận A. Mua được ma túy, L cầm trên tay đi về đến trước số 27B M, Phường Q, Quận A thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 kết hợp với Công an Phường 15, Quận 8 bắt quả tang như trên. Còn lại 01 tép heroine S cất giấu trong bàn thờ ông địa đặt ở phòng khách chờ bán lại cho người khác. Sau đó, đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 kết hợp với Công an Phường 15, Quận 8 kiểm tra hành chính nhà số 20/23 M, Phường Q, Quận A bắt quả tang thu giữ tép Heroine S đang cất giữ như trên. Trước đó S đã 04 lần bán ma túy cho L, mỗi lần 01 tép Heroine giá 100.000 đồng. Cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 11 giờ ngày 01/3/2016, lần thứ hai vào khoảng 11 giờ ngày 03/3/2016, lần thứ ba vào khoảng 11 giờ ngày 05/3/2015, lần thứ tư vào khoảng 11 giờ ngày 07/3/2015. S bán Heroine từ 25/02/2016 cho đến ngày bị bắt được khoảng 15 ngày thu lợi khoảng 1.500.000 đồng đã tiêu xài 920.000 đồng, còn lại 580.000 đồng bị Công an kiểm tra thu giữ như trên. Lời khai của S và L phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án:
- Gói niêm phong số: 643 bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Văn S, hình dấu Công
an Phường 15, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình H.
- Gói niêm phong số: 644 bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn L hình dấu Công an
Phường 15, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình H.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen số Imei: 356712/05/282137/8 gắn
sim số 0932.615.519, tạm giữ của L là tài sản cá nhân của L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an Phường 1, Quận 8 lập biên bản trả cho L.
- Số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi ngìn đồng tiền NHNN Việt Nam) của
Kho bạc Nhà nước.
Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 10/02/2017 và Công văn số 187/CV-VKS
ngày 21/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Phan Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo Phan Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 10 năm tù. Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên Tòa; căn cứ vào kết
quả tranh luận tại phiên Tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo,
XÉT THẤY:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi
của mình như đã nêu trên, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, người làm chứng; tang vật đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, xác định bị cáo Phan Văn S có hành vi bán ma túy cho Lê Văn L, cụ thể vào khoảng 11 giờ ngày 09/3/2016 Lê Văn L đến nhà số 20/23 M, Phường Q, Quận A gặp và mua của S 01 tép Heroine với giá 100.000 đồng về sử dụng. L cầm trên tay tép herine đến trước số 27B M, Phường Q, Quận A thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 kết hợp với Công an Phường 15, Quận 8 bắt quả tang.
Trước đó S đã 04 lần bán ma túy cho L, mỗi lần 01 tép Heroine giá 100.000 đồng.
Cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào khoảng 11 giờ ngày 01/3/2016, lần thứ hai vào khoảng 11 giờ ngày 03/3/2016, lần thứ ba vào khoảng 11 giờ ngày 05/3/2015, lần thứ tư vào khoảng 11 giờ ngày 07/3/2015. S bán Heroine từ 25/02/2016 cho đến ngày bị bắt được khoảng 15 ngày thu lợi khoảng 1.500.000 đồng đã tiêu xài 920.000 đồng, còn lại 580.000 đồng bị Công an kiểm tra thu giữ.
Theo Kết luận giám định số 643/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 và Kết luận giám định
số 644/KLGĐ-H ngày 12/5/2016 và Công văn số: 799/PC54- Đ6 ngày 06/01/2017 giải thích từ ngữ trong kết luận giám định:
- Chất bột màu trắng trong một đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong có chữ ký
ghi tên Phan Văn S và hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0256g, loại Heroine.
- Chất bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong có chữ ký
ghi tên Lê Văn L và hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0873g, loại Heroine.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định bị cáo Phan Văn S phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do bị cáo 5 lần bán ma túy cho Lê Văn L nên áp dụng tình tiết định khung tăng nặng phạm tội nhiều lần đối với bị cáo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bị cáo có một tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích, lại phạm tội mới, do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này là cố ý. Bị cáo mua bán trái phép chất
ma túy là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự chung, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước đối với các chất ma túy, gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, Hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành công dân tốt, làm ăn lương thiện khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,
phạm tội lần đầu, do đó áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Gói niêm phong số: 643 bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Văn S, hình dấu Công
an Phường 15, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình H và Gói niêm phong số: 644 bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn L hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình H, xét là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen số Imei: 356712/05/282137/8 gắn
sim số 0932.615.519, tạm giữ của S, S dùng liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi ngìn đồng tiền NHNN Việt Nam) của
Kho bạc Nhà nước, xét là tiền do S mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu tiêu hủy.
Do bị cáo thu lợi bất chính trong việc mua bán trái phép chất ma túy nên căn cứ
vào khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) phạt bị cáo số tiền nhất định.
Đối với Lê Văn L có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng chưa đủ căn
cứ để xử lý hình sự, nên Công an Phường 15, Quận 8 ra Quyết định xử phạt hành chính.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Phan Văn S qua xác minh hiện không rõ
lai lịch, Công an quận 8 đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Kim Đ không thừa nhận bán ma túy cho Lê Văn L vào sáng
ngày 09/3/2016 tại nhà số 20/23 M, Phường Q, Quận A; ngoài lời khai của Lê Văn L, không có chứng cứ nào khác chứng minh Đ là người bán ma túy cho L, do đó không có căn cứ xử lý Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn S (Tên gọi khác: SL) phạm tội "Mua bán trái phép chất
ma túy".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1
Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt bị cáo Phan Văn S (Tên gọi khác: SL) 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính
từ ngày 09/3/2016.
- Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm
2009).
Phạt bị cáo Phan Văn S (Tên gọi khác: SL) số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu
đồng) để sung vào quỹ Nhà nước.
- Áp dụng Điều 41, Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm
2009); khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 920.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy:
- Gói niêm phong số: 643 bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Văn S, hình dấu Công
an Phường 15, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình H và Gói niêm phong số: 644 bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn L hình dấu Công an Phường 15, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình H.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen số Imei: 356712/05/282137/8 gắn
sim số 0932.615.519.
- Số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi ngìn đồng tiền NHNN Việt Nam).
(Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 188/PNK ngày 16/6/2016 và Giấy nộp
tiền vào tài khoản lập ngày 09/6/2016 của Công an Quận 8).
- Áp dụng Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phan Văn S (Tên gọi khác: SL) nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ
thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TA ND TP.HCM; - VKS ND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKS ND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Công an Quận 8; - Bị cáo; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |