- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 254/2025/HS-PT Ngày: 26-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt.
Các Thẩm phán:
Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 152/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo và người tham gia tố tụng khác đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp).
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/1980, tại tỉnh Tiền Giang;
Số CCCD: 082080016880;
Nơi cư trú: ấp Hậu Quới, xã Hậu Mỹ Bắc B, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Nay là: ấp Hậu Quới, xã Hậu Mỹ, tỉnh Đồng Tháp.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1943) và bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1947);
Bị cáo có vợ tên: Nguyễn Thị Diễm K và 02 con, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2007;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Trần Thị Đ1 sinh năm 1974 (mẹ của bị hại).
Địa chỉ: xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Nay là: xã Phong Hiệp, tỉnh Cà Mau.
Bản án không bị Viện kiểm sát kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 06/8/2024, Nguyễn Văn T (có giấy phép lái xe hạng B2) trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển số 63C-030.60, lưu thông trên đường N, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang hướng từ đường N đến Cảng cá M, tại Phường B, thành phố M, để mua cá về bán. Khi đến giao lộ đường N giao nhau với đường N và Hoàng Hoa T1, thuộc Phường C, thành phố M, T điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải vào đường N để đi đến đường Đ, Phường B, thành phố M. Do thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, xe ô tô tải do T điều khiển xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 94E1-323.33 do Trần Quốc T2, sinh năm 1995, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau điều khiển một mình, đang lưu thông cùng chiều, bên phải, làm anh T2 té ngã xuống đường bị thương tích. Anh T2 được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H cấp cứu, sau đó, chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh T tiếp tục điều trị. Khoảng 19 giờ 25 phút ngày 07/8/2024, anh T2 tử vong.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- 01 (một) xe ô tô tải biển số 63C-030.60; nhãn hiệu KIA, Số máy: JT643399, Số khung; RNHKCB27TDC910764;
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2 số 820107001066, ngày cấp 24/12/2014 tên Nguyễn Văn T;
- 01 (một) xe mô tô biển số 94E1-323.33, nhãn hiệu YAMAHA, số máy: E3X9E262563, số khung: 3210HY109352.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã trao trả 01 (một) xe mô tô biển số 94E1-323.33, nhãn hiệu YAMAHA cho chủ sở hữu là ông Huỳnh Quốc H. Trao trả 01 (một) xe ô tô tải biển số 63C-030.60; nhãn hiệu KIA, cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Diễm K .
Ngoài ra trong quá trình điều tra đã thu giữ dữ liệu điện tử: 01 (một) đoạn video ghi nhận vụ việc Tai nạn giao thông đường bộ, xay ra ngày 06/8/2024, tại số I đường N, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, được cho vào phong bì niêm phong lại có chữ ký và họ tên Lê Thị Ngọc N;
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 256-2024/KLGĐTT-TTPY ngày 07/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Nguyên nhân tử vong tử thi Trần Quốc T2: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ bán cầu đại não trái. Xuất huyết dưới nhện toàn bộ bản cầu đại não phải. Xuất huyết thân não. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não, dập não, võ vòm sọ, sàng sọ. Kết quả xét nghiệm nồng độ Ethanol trong máu của Trần Quốc T2: 217.498 mg/dl.
Trên cơ sở các dấu vết để lại hiện trường, phương tiện và tài liệu có liên quan đủ cơ sở xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông nêu trên do lỗi của Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô tải chuyển hướng rẽ phải không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, làm anh Trần Quốc T2 tử vong, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T và gia đình đã bồi thường cho gia đình anh T2 số tiền 300.000.000 đồng. Các bên liên quan không yêu cầu bồi thường gi khác. Gia đình anh T2 có đơn bãi nại cho anh T.
Tại cáo trạng số 38/CT-VKSMT ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực I – Đồng Tháp) đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo của bị cáo, những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
* Ngày 24 tháng 4 năm 2025, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.
* Ngày 08 tháng 5 năm 2025, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị Đ1 có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn T xuống án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo rất ăn năn, hối cải với hành vi của bị cáo, xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để chăm lo cho con nhỏ và cha mẹ già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm chứng cứ nhưng những tình tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và đại diện hợp pháp của bị hại là Trần Thị Đ1 là trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bà Trần Thị Đ1 vắng mặt và có “Đơn xin cứu xét” ngày 25/8/2025.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T xin được hưởng án treo; Bà Trần Thị Đ1 (mẹ bị hại) vắng mặt và có nộp “Đơn xin cứu xét” đề ngày 25/8/2025 nêu ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị cho bị cáo T được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã nêu, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 06/8/2024, Nguyễn Văn T trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển số 63C-030.60, lưu thông trên đường N, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang hướng từ đường N đến Cảng cá M, tại Phường B, thành phố M, để mua cá về bán. Khi đến giao lộ đường N giao nhau với đường N và Hoàng Hoa T1, thuộc Phường C, thành phố M; bị cáo T điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải vào đường N để đi đến đường Đ, Phường B, thành phố M. Do thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, xe ô tô tải do T điều khiển xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 94E1-323.33 do Trần Quốc T2, sinh năm 1995, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau điều khiển một mình, đang lưu thông cùng chiều, bên phải, làm anh T2 té ngã xuống đường bị thương tích. Anh T2 được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H cấp cứu, sau đó, chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh T tiếp tục điều trị. Khoảng 19 giờ 25 phút ngày 07/8/2024, anh T2 tử vong.
Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, có lỗi gây ra cái chết của bị hại, cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo và bị hại kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Qua xem xét hành vi vi phạm của bị cáo là lỗi vô ý, do thiếu chú ý quan sát khi tham gia giao thông, sau khi hậu quả xảy ra, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, đại diện bị hại đồng ý và có kháng cáo yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo; xét thấy, mặc dù cấp sơ thẩm có áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, nhưng hành vi của bị cáo vi phạm tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm tù là trong khung hình phạt đảm bảo điều kiện áp dụng án treo, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cú trú rõ ràng, chấp hành tốt pháp luật tại địa phương, sau khi nhận toàn bộ số tiền bồi thường đại diện bị hại có kháng cáo đề nghị cho bị cáo hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nộp bổ sung xác nhận của chính quyền địa phương: bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, vợ không nghề nghiệp, cha mẹ ruột già yếu trên 70 tuổi cần người chăm nuôi, toàn bộ kinh tế gia đình đều phụ thuộc vào bị cáo; đây là tình tiết cần xem xét cho bị cáo đảm bảo điều kiện được hưởng án treo đủ tác dụng cải tạo bị cáo và răn đe tội phạm trong tham gia giao thông hiện nay. Từ đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo và của đại diện bị hại, sửa bản án sơ thẩm.
Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định.
Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị Đ1.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân khu vực I - Đồng Tháp).
1/ Về hình phạt
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Đồng Tháp; - TAND khu vực 1 – Đồng Tháp; - VKSND khu vực 1 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã Hậu Mỹ, tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Minh Nguyệt |