- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Ái Hđối với ông Phạm Đình H.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 254/2020/HNGĐ-ST Ngày: 07-9-2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đức Hiếu
Bà Trần Thị Kim Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 68/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn, nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2020 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Ái H- Sinh năm: 1982. Địa chỉ: Đường Đ, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Đình H - Sinh năm: 1973. Địa chỉ: Đường Đ, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2020, bảng tự khai ngày 23/4/2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Ái Htrình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Đình H kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận kết hôn số 129 ngày 15/9/2006). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Đường Đ, quận L, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 11/2018. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Phạm Đình H.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là: cháu Phạm Dĩ T - Sinh ngày: 15/9/2011 và cháu Phạm Kiến M – Sinh ngày: 04/7/2009. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông Phạm Đình H cấp dưỡng nuôi con hằng tháng là 4.000.000đ.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Ái H xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu tòa án giải quyết.
Ngày 23/6/2020, bà Ngô Ái Hcó đơn đề nghị rút yêu cầu cấp dưỡng đối với ông Phạm Đình H vì ông H hiện nay không có việc làm và không có thu nhập ổn định.
Đối với bị đơn ông Phạm Đình H : Mặc dù ông Phạm Đình H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Phạm Đình H vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại bản tự khai của cháu Phạm Dĩ T và cháu Phạm Kiến M, cả hai cháu đều xác định mong muốn được ở với mẹ.
Tại biên bản xác M, Tổ trưởng tổ dân phố cũng xác định bà Ngô Ái Hvà ông Phạm Đình H vẫn chung sống tại địa chỉ trên nhưng không ai quan tâm đến ai.
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Ái H đối với ông Phạm Đình H.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu cháu Phạm Dĩ T - Sinh ngày: 15/9/2011 và cháu Phạm Kiến M - Sinh ngày: 04/7/2009 cho bà Ngô Ái H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
Về vấn đề cấp dưỡng: Ngày 23/6/2020, bà Ngô Ái H có đơn đề nghị rút yêu cầu cấp dưỡng đối với ông Phạm Đình H, xét thấy việc rút đơn của bà H là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật nên đề nghị HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Ái H xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2020 thì nguyên đơn khởi kiện đối với ông Phạm Đình H để xin ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng”.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện, sổ hộ khẩu và biên bản xác M của Tòa án thì tại thời điểm khởi kiện, ông Phạm Đình H có hộ khẩu tại địa chỉ: Đường Đ, quận L, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về việc giải quyết vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông Phạm Đình H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Đình H.
Về nội dung.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Ngô Ái H và ông Phạm Đình H kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận kết hôn số 129 ngày 15/9/2006). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Đường Đ, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Ngô Ái Hòa, HĐXX nhận thấy: sau khoảng thời gian sống chung, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp quan điểm, tính tình, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa vợ chồng vẫn không khắc phục được nên bà đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Đình H. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù tòa án đã tiến hành triệu tập để hòa giải nhưng ông H vắng mặt không rõ lý do. Điều này thể hiện ông H không có ý định hòa giải với bà H để cứu vãn cuộc sống hôn nhân giữa ông bà. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Ngô Ái H và ông Phạm Đình H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và bà Ngô Ái H xác định không còn tình cảm với ông Phạm Đình H nữa nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Ái H đối với ông Phạm Đình H.
Về con chung và cấp dưỡng: Bà Ngô Ái H xác định vợ chồng có 02 con chung, bao gồm: cháu Phạm Dĩ T - Sinh ngày: 15/9/2011 và cháu Phạm Kiến M – Sinh ngày: 04/7/2009. Ly hôn, bà Ngô Ái H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 đồng mỗi tháng.
Xét thấy: theo bản tự khai của cháu M và cháu T thì hai cháu đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, việc bà H nuôi dưỡng các cháu sẽ phù hợp hơn với việc phát triển tâm sinh lý của cháu về sau. Do đó, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Ái H về việc giao con chung cháu Phạm Dĩ T và cháu Phạm Kiến M cho bà trực tiếp nuôi dưỡng.
Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà Ngô Ái H yêu cầu ông H cấp dưỡng 4.000.000 đồng mỗi tháng. Tại Đơn đề nghị rút yêu cầu khởi kiện ngày 23/6/2020, bà H đề nghị rút yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc bà H đề nghị rút yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và không trái pháp luật, HĐXX chấp nhận và đình chỉ giải quyết yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa bà Ngô Ái H xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Bà Ngô Ái H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 28, 35, 39, 147, 244, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Ái Hđối với ông Phạm Đình H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Ngô Ái H được ly hôn với ông Phạm Đình H .
2. Về con chung và cấp dưỡng:
Giao con chung cháu Phạm Dĩ T - Sinh ngày: 15/9/2011 và cháu Phạm Kiến M - Sinh ngày: 04/7/2009 cho bà Ngô Ái H trực tiếp nuôi dưỡng.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của bà Ngô Ái Hđối với ông Phạm Đình H.
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết bà Ngô Ái H và ông Phạm Đình H có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Ngô Ái H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001009 ngày 16/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Ngô Ái Hđã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - VKSND quận Cẩm Lệ; - UBND P. Thanh Bình; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa Nguyễn Hữu Hưng |