- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội: “ Cưỡng đoạt tài sản”. - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội: “ Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHATRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 254 /2018/HS-ST Ngày: 31/10 /2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa: Bà NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà NGUYỄN THỊ TUYẾT HỒNG
Bà VÕ THỊ BỜI
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ THU HIỀN
- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
* Đại diện VKSND thành phố Nha Trang tham gia phiên toà:
Bà BÙI THỊ MỸ PHƯƠNG - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 317/2018/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
BÙI VĂN Đ – Sinh năm: 1993
Nơi ĐKNKTT: Tổ 19, T, V, Nha Trang, Khánh Hòa.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 19, T, V, Nha Trang, Khánh Hòa.
Văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không.
Cha: Bùi Văn K ( 1955). Mẹ: Lê thị T ( 1959).
Tiền án: 02
1/ Bản án số 239/HSST ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2014.
2/ Bản án số 81/HSST ngày 31/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 03 năm tù về tội: “ Chống người thi hành công vụ”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2017.
Nhân thân:
Bản án số 202 ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang tuyên phạt 15 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2011 và đã đóng tiền án phí HSST 50.000đ.
Bắt tạm giam: 29/4/2018.
Bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị Kim H – Sinh năm: 1989
Địa chỉ: 39 T, V, Nha Trang, Khánh Hòa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/ Phan Ngô N – Sinh năm: 1977
Địa chỉ: 39 T, V, Nha Trang, Khánh Hòa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3/ Ngô Thị H – Sinh năm: 1971
Địa chỉ: 97/4 Đ, V, Nha Trang, Khánh Hòa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Thế T – Sinh năm: 1968
Địa chỉ: Tổ 24 Đ, V, Nha Trang, Khánh Hòa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1/ Phạm Thị H – Sinh năm: 1971
2/ Nguyễn Văn Ú – Sinh năm: 1972
Đều trú tại: KB 119 C, V, Nha Tramg, Khánh Hòa.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
3/ Trần Ngọc D – Sinh năm: 1997
Địa chỉ: 39 T, V, Nha Trang, Khánh Hòa. Vắng mặt.
4/ Nguyễn Thị Thu H – Sinh năm: 1994
Địa chỉ: H, V, Nha Trang, Khánh Hòa. Vắng mặt.
5/ Ngô Thị X – Sinh năm: 1969
Địa chỉ: 39 T, V, Nha Trang, Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền sử dụng cho cá nhân và sử dụng ma túy nên Bùi Văn Đ đã nhiều lần đến các cơ sở kinh doanh ăn uống tại khu vực T, V, Nha Trang đe dọa chủ quán nhằm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:
Khoảng đầu tháng 4/2018, Đ đến quán X tại 39 đường T, V, Nha Trang tìm chủ quán là chị Nguyễn Thị Kim H và anh Phan Ngô N để buộc chị H đưa tiền “ bảo kê” cho Đ. Tuy nhiên, lúc này do chị H, anh N không có mặt nên Đ đã la hét, chửi bới, đập phá bàn, ghế của quán để đe dọa chị H và anh N.
Khoảng cuối tháng 4/2018, Đ tiếp tục đến quán X gặp anh N. Khi đến quán, Đ la hét, to tiếng đòi anh N đưa tiền cho mình. Anh N sợ Đ tiếp tục đập phá quán của mình như lần trước, làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của quán nên anh N đã đưa cho Đ 200.000đ, sau khi nhận tiền Đ bỏ đi.
Khoảng 14h30 ngày 21/4/2018, Đ đến quán ốc H cạnh quán X địa chỉ 57 T,
V, Nha Trang tìm chủ quán là Ngô Thị H để xin tiền nhưng không gặp chị H. Đ yêu cầu nhân viên quán là anh Nguyễn Văn Ú và chị Phạm Thị H phải đưa cho Đ 500.000đ. Anh Ú và chị H không đồng ý đưa tiền thì Đ đã la hét, chửi bới, dùng ghế nhựa đập phá bàn trong quán, hăm dọa và yêu cầu anh Ú và chị H phải gọi điện cho chị H để đưa tiền cho Đ. Vì sợ Đ sẽ tiếp tục đập phá quán nên chị H đã gọi báo lại sự việc cho chị H, chị H bảo chị H đưa cho Đ 500.000đ nhưng do không đủ tiền nên chị H đưa cho Đ 450.000đ.
Khoảng vài ngày sau, Đ tiếp tục đến quán Ốc H tìm chị H, Đ to tiếng, chửi bới đòi tiền. Chị H sợ Đ làm khách bỏ đi nên đã đưa cho Đ 200.000đ.
Đến 19 giờ ngày 28/4/2018, Đ đến quán X gặp chị H chủ quán, buộc chị H
đưa tiền. Do Đ đã đập phá quán trước đó và Đ có mang theo 01 con dao cán vàng bên hông nên chị H sợ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán và tính mạng, sức khỏe của bản thân nên đã lấy 100.000đ đưa cho Đ. Ngay khi Đ nhận tiền thì bị lực lượng công an Thành phố Nha Trang bắt quả tang cùng tang vật.
Tại bản Cáo trạng số 250/CT-VKSNT ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Bùi Văn Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND Thành phố Nha Trang đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 03 ( ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1 ] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa tiếp tục xét xử theo thủ tục chung.
Các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong vụ án này đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[ 2 ] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Bùi Văn Đ thực hiện đã đủ các yếu tố cấu thành tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã đập phá đồ đạc tài sản trong quán; đồng thời đe dọa sẽ cản trở khách đến quán nhằm uy hiếp tinh thần của các bị hại để chiếm đoạt tiền phục vụ cho sinh hoạt bản thân. Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội đối với các bị hại. Ngoài ra, nhân thân bị cáo xấu: Bản án số 202 ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang tuyên phạt 15 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2011 và đã đóng tiền án phí HSST 50.000đ. Ngoài ra, bị cáo còn có 2 tiền án, cụ thể: Bản án số 239/HSST ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2014; Bản án số 81/HSST ngày 31/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 03 năm tù về tội: “ Chống người thi hành công vụ”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2017 nhưng vừa ra tù lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm mới có tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét khi lượng hình.
Đối với hành vi bị cáo Đ đã đập phá đồ đạc, tài sản nhưng các bị hại có đơn không yêu cầu định giá tài sản và cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
[ 3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
[ 4] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 con dao Thái lan cán nhựa màu vàng dài khoảng 20cm. Xét thấy: Không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy ( Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/09/2018 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra công an Thành phố Nha Trang với Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang).
[ 5] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội: “ Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 170; điểm s khoản Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Văn Đ.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Đ 04 ( bốn) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt giam 29/4/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái lan cán nhựa màu vàng dài khoảng 20cm. ( Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20/09/2018 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra công an Thành phố Nha Trang với Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang).
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Toà án nhân dân Tỉnh Khánh Hoà; - VKSND Tp.Nha Trang; - Công an Tp.Nha Trang; - Chi cục THADS Tp.Nha Trang; - Sở tư pháp Khánh Hòa; - Lưu hồ sơ, án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Bích Thủy |