vanban.org

Bản án 485/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận quyết định kháng nghị số: 10/QĐ-VC1-HS ngày 20/3/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Bá L cho Ủy ban nhân dân xã LT, thành phố Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận quyết định kháng nghị số: 10/QĐ-VC1-HS ngày 20/3/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 485/2020/HS-PT
Ngày: 28/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hạnh;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Sơn;

Ông Nguyễn Vũ Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trung Quy- Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 338/2020/TLPT-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Các bị cáo bị kháng nghị:

1. Nguyễn Bá L, sinh ngày 15/7/1981; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Đội 2, xã LT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ là Lê Thị Thu T2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2019 đến ngày 14/6/2019 chuyển tạm giam, đến ngày 10/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Từ ngày 04/12/2019 bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Thành N, sinh ngày 21/9/1998; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Ng, xã Phú Th, huyện Yên B, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị H; vợ là Triệu Thị P và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 02 tiền sự, ngày 08/11/2018 Công an huyện Yên B, tỉnh Yên Bái ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 222/QĐ-XPHC với số tiền 1.000.000đ về hành vi đánh nhau; ngày 23/11/2018 UBND xã Phú Th, huyện Yên B, tỉnh Yên Bái ra quyết định số 78/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Bùi Thành N. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2019 đến ngày 14/6/2019 chuyển tạm giam, đến ngày 10/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Từ ngày 04/12/2019 bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1983, trú tại: Thôn Chợ A, xã Côn M, huyện Na R, tỉnh Bắc Kạn; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/6/2019, Nguyễn Bá L và Đỗ Xuân S, sinh năm 1977, trú tại Thôn 1, xã Giới Ph, thành phố Yên Bái rủ nhau lên thành phố Bắc Kạn chơi, L và S cùng làm nghề mộc nên có quen biết nhau từ trước. Sau đó, L gọi điện thoại cho Vũ Văn H1, sinh năm 1983, trú tại thôn Chợ A, xã Côn M, huyện Na R, tỉnh Bắc Kạn bảo H1 ra quán Karaoke Dubai, thuộc tổ 12, phường Tg, thành phố Bắc Kạn bàn chuyện làm ăn nhưng thực chất là để đòi tiền H1 nợ. Trước đó vào khoảng tháng 3/2019 L có đưa cho H1 số tiền 128.000.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu đồng) nhờ mua gỗ tại Bắc Kạn cho L, nhưng sau đó H1 không mua được, L có hỏi nhưng H1 không trả tiền cho L.

Sáng ngày 05/6/2019, Nguyễn Bá L đi xe khách từ nhà đến ngã ba KA thuộc huyện ĐA, Hà Nội để đợi Đỗ Xuân S. Đến khoảng 09 giờ 00 cùng ngày, L thấy S đi xe ô tô INNOVA, BKS 21A- 035.xx do Lê Hải N2, sinh năm 1999, trú tại phường ĐT, thành phố Yên Bái điều khiển đến đón, khi lên xe, L thấy có một số người nữa, sau này mới biết tên gồm: Bùi Thành N; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986, trú tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; Nguyễn Tiến D, sinh năm 1997 và Nguyễn Văn N3, sinh năm 1995 đều trú tại huyện Yên B, tỉnh Yên Bái. Lên đến thành phố Bắc Kạn, cả nhóm đi ăn cơm rồi đến quán Karaoke Dubai tại tổ 15, phường Tg, thành phố Bắc Kạn vào phòng hát số 2 của quán. Lúc này, Vũ Văn H1 đã đến quán đợi trước, tại đây L có nói với H1 là “H1 ạ, việc của mày với tao chưa xong đâu, tao chỉ cần mày trả đủ số tiền cho tao, mày gọi điện về cho vợ mày trả trước anh 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và viết giấy vay nợ số tiền còn lại mới được ra về, nếu không anh em mình vẫn ngồi đây”. Sau đó, L bảo H1 phải gọi điện thoại về cho vợ là chị Lô Thị N4 lấy số tiền 128.000.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu đồng) ra trả cho L. Khi H1 gọi thì chị N4 nói là không có tiền và đi trình báo cơ quan Công an về sự việc. Lúc này do thấy có sự to tiếng giữa L và H1, Bùi Thành N đã cầm 01 chiếc tô vít, N vừa lấy trước đó ở quầy lễ tân của quán và dí ngang vào cổ H1, thì L nói với N “Mày ra ngoài kia, không được đánh để anh nói chuyện”, nên N đã đi ra bên cạnh. Lúc này, S cũng bảo H1 trả tiền cho L, thì H1 đứng dậy định đánh S, thì Bùi Thành N có dùng tay phải tát H1 04 phát vào vùng mặt, L kéo tay và can ngăn, nhưng N tiếp tục cầm 01 chai bia Heneiken đánh vào đầu H1 02 (hai) cái, rồi L kéo N ra ngoài.

Sau đó, do không giải quyết được sự việc nên Nguyễn Bá L, Vũ Văn H1, Bùi Thành N và Nguyễn Tiến D đi khỏi quán DuBai di chuyển bằng xe máy đến quán cà phê Tây S thuộc tổ 5, phường Pg, thành phố Bắc Kạn, còn Đỗ Xuân S, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn N2 và Lê Hải N2 đi ô tô về Yên Bái. Khi đến quán cà phê Tây S, L đã bảo N đi mua một quyển vở, bút về để ép H1 phải viết giấy vay L với số tiền 128.000.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu đồng). Tiếp đó, tại bàn uống nước tầng 1 giáp với quầy lễ tân, L bảo N đọc nội dung cho H1 viết giấy vay tiền với nội dung: Ngày 05/5/2019, H1 có vay của L số tiền 128.000.000đ để sử dụng vào việc gia đình và hẹn đến ngày 09/6/2019 sẽ trả lại số tiền này cho L. Toàn bộ quá trình trên, D chỉ đúng ngoài chứng kiến và không có hành vi nào khác. Sau khi H1 viết xong, L và N đã bị tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn lập biên bản kiểm tra thu giữ vật chứng có liên quan và đưa về trụ sở Phòng Cảnh sát hình sự để điều tra xác minh làm rõ.

Đối với Vũ Văn H1 qua điều tra xác định: Khoảng tháng 3/2019 Nguyễn Bá L có đưa cho H1 số tiền 128.000.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu đồng) nhờ H1 mua gỗ mỡ tại Bắc Kạn cho L. Sau khi nhận tiền, H1 có đi tìm gỗ nhưng không mua được, L có hỏi nhưng H1 bảo chưa tìm được thì L bảo muốn lấy lại số tiền. Sáng ngày 05/6/2019 L gọi điện bảo H1 ra thành phố Bắc Kạn để nói chuyện, đến khoảng 14h 30 phút cùng ngày H1 và L cùng lên quán Karaoke Dubai và vào phòng hát số 2 của quán để nói chuyện, tại đây L có bảo H1 trả số tiền 128.000.000đ và phải trả trước 50.000.000đ nhưng H1 chưa có tiền trả ngay. H1 điện thoại cho vợ là Lô Thị N4, nhưng chị N4 nói không có tiền. Sau đó Đỗ Xuân S bảo H1 trả tiền cho L thì H1 đứng dậy giơ tay định đánh S, Bùi Thành N dùng tô vít dí vào cổ, dùng tay tát vào mặt và dùng chai bia Heneiken đánh vào đầu của H1. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày L bảo H1 cùng đi xuống quán cà phê Tây S, do L chở H1 bằng xe máy của H1 để đợi vợ H1 mang tiền ra trả. Tại đây, N đi mua về một quyển sổ và bắt ép H1 viết giấy vay nợ, do hoang mang và lo sợ L và N sẽ đánh mình nên H1 đã phải viết giấy vay L số tiền 128.000.000đ (Một trăm hai mươi tám triệu đồng). Sau khi H1 viết xong thì Công an đến kiểm tra và lập biên bản sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bá L và Bùi Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngày 06/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành thực nghiệm điều tra, cho bị can Nguyễn Bá L, Bùi Thành N, bị hại và những người có liên quan diễn lại hành vi tại phòng số 2, quán Karaoke DuBai, thuộc tổ 15, phường Tg, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả thực nghiệm đều phù hợp với lời khai của bị can và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-P1, ngày 30/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Nguyễn Bá L và bị cáo Bùi Thành N về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 21/02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s và v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thành N 24 (Hai mươi tư) tháng tù, được trừ đi thời hạn bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/6/2019 đến ngày 10/8/2019. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/3/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quyết định kháng nghị số 10/QĐ-VC1-HS đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xử phạt các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N về tội “Cướp tài sản” và tăng hình phạt đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm của quyết định kháng nghị số 10/QĐ-VC1-HS ngày 20/3/2020, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xử phạt các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N về tội “Cướp tài sản” và tăng hình phạt đối với các bị cáo.

Bị cáo Bùi Thành N khai nhận: Bị cáo không biết L, mà chỉ quen biết S và cùng đi theo, tại quán Karaoke DuBai ở thành phố Bắc Kạn, H1 đã thừa nhận là người nợ tiền L, khi S nói với H1 là không mua được gỗ thì trả tiền cho L, thì H1 còn có thái độ định đánh S nên tôi mới tát H1, rồi cầm chai bia Heneiken đánh một cái vào cổ H1. Lúc này L bảo tôi “Mày ra ngoài kia không được đánh để anh nói chuyện”. Sau đó tôi cùng L, H1 ra quán cà phê Tây S, L bảo tôi đi mua quyển vở, bút về và bảo H1 viết xác nhận khoản nợ mà H1 cầm của L 128.000.000 đồng từ tháng 3/2019 để mua gỗ mỡ, không mua được nhưng cũng không trả lại cho L. Khi bắt đầu đi lên thành phố Bắc Kạn tôi và L không hề biết nhau, cũng không bàn bạc gì, cũng không biết L đi đòi nợ, đến thành phố Bắc Kạn khi nghe L nói với H1 thì tôi mới biết. Tôi biết việc tôi đánh H1 là sai, tôi đã bồi thường cho H1 2.000.000 đồng; tôi không nghĩ sẽ bị phạm tội; tôi không nhất trí với quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.

Bị cáo Nguyễn Bá L khai nhận: Tôi quen H1 qua S, khoảng tháng 3/2019 tôi có nhu cầu mua gỗ mỡ, nên tôi đưa cho H1 128.000.000 đồng, nhờ H1 mua gỗ mỡ, H1 đã hẹn với tôi là sau một tháng sẽ mua được, nhưng sau một tháng H1 không mua được, tôi nói là không mua được thì trả lại tiền cho tôi, tôi cũng đã hỏi 3 lần nhưng H1 cứ khất lần không trả lại cho tôi đồng nào, nên tôi rủ S lên thành phố Bắc Kạn để đòi lại tiền của tôi mà H1 cầm không chịu trả. Khi đi, N cũng không biết gì, khi đến thành phố Bắc Kạn tôi nói N mới biết. Việc N khai là đúng, chúng tôi không bàn bạc gì với nhau, vì tôi không quen N, mà chỉ biết S, tôi và N đều đi nhờ xe ô tô của Lê Hải N2. Tôi không cướp tiền của anh H1, mà hôm lên thành phố Bắc Kạn, tôi yêu cầu anh H1 trả trước 50.000.000 đồng, còn lại thì bảo H1 ghi nhận nợ lại, vì khi đưa 128.000.000 đồng H1 nói khoảng một tháng là mua được gỗ mỡ, vậy mà sau 3 tháng không mua được cũng không trả cho tôi đồng nào. Tôi cũng không bảo N đánh H1, mà tôi còn can N, khi H1 định đánh S. Tôi bảo N đi mua giấy bút về để H1 ghi nhận lại số tiền đã cầm của tôi; nếu H1 không mua được như thỏa thuận và trả lại tiền cho tôi thì sẽ không có chuyện gì xảy ra. Tôi không nhất trí với quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phân tích diễn biến hành vi của bị cáo L và bị cáo N đã xác định các bị cáo sử dụng vũ lực với H1, để đòi nợ và vẫn giữ nguyên quan điểm của quyết định kháng nghị số 10/QĐ-VC1-HS ngày 20/3/2020, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xử phạt các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N về tội “Cướp tài sản” và tăng hình phạt đối với các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Về tố tụng:

Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, trong hạn luật định được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Bị hại anh Vũ Văn H1 đã nhận được giấy triệu tập lần thứ 2, nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

. Về nội dung:

Xét nội dung quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Nguyên nhân sâu xa để xảy ra vụ án này là do Nguyễn Bá L thông qua Đỗ Xuân S quen biết anh Vũ Văn H1, qua câu chuyện H1 nhận lời, nhận tiền 128.000.000 đồng của L và hứa sẽ mua gỗ mỡ cho L trong vòng một tháng; sau 3 tháng H1 không những không mua được gỗ mà còn không trả cho L đồng nào cho dù L đã đòi nhiều lần; hồ sơ vụ án và lời khai của L và N thể hiện L và N không quen nhau, N đi theo S đến thành phố Bắc Kạn. Khi ở trong quán Karaoke DuBai tại thành phố Bắc Kạn có xảy ra việc S nói H1 trả lại tiền cho L thì H1 định đánh S, nên N đã tát và dùng chai bia đánh H1. Sự việc N đánh H1 là do tự phát xảy ra mâu thuẫn giữa S – H1 – N, cùng lúc này L là người trực tiếp can ngăn không cho N đánh H1 và bảo N đi ra ngoài để L nói chuyện. Tiếp theo khi cả nhóm S, Q, N4 và N3 đi ô tô về Yên Bái, còn L – N – H1 di chuyển ra quán cà phê Tây S tại thành phố Bắc Kạn, L bảo N đi mua vở, bút về và bắt ép H1 viết xác nhận nợ, vì lo sợ do trước đó bị N đánh nên H1 đã viết xác nhận nợ xong tại quán.

Tại phiên tòa sơ thẩm (BL: 355;356) đã làm rõ về hậu quả hành vi của N đánh H1 sau khi đi khám kiểm tra không có thương tích gì xảy ra, các bên đã thỏa thuận với nhau xong. Về nguyên nhân của vụ án, bị hại H1 cũng thừa nhận tháng 3/2019 có cầm tiền của L 128.000.000 đồng, hứa mua gỗ mỡ, khi không mua được như đã hứa hẹn và L đã nhiều lần đòi H1 trả lại tiền, nhưng H1 không trả, nên đã xảy ra vụ án này. Bị hại H1 cũng đã nhận trách nhiệm trả lại 128.000.000 đồng cho L; đồng thời bản thân bị hại cũng thừa nhận nguyên nhân để xảy ra vụ án cũng do một phần lỗi của mình gây ra, vì đã không mua được gỗ mỡ như thỏa thuận, nhưng cũng không trả được khoản tiền 128.000.000 đồng, cho dù L đã đòi nhiều lần, bị hại mong Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Như vậy, đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, các bị cáo thực hiện hành vi không có sự bàn bạc, câu kết với nhau từ trước, ở giai đoạn đầu khi ở quán hát việc xảy ra xô sát do sự cư xử bột phát của cả ba người giữa: S – H1 – N và ngay lúc đó L đã can ngăn không cho N đánh H1, bảo N đi ra ngoài để L nói chuyện, nên sự việc đã chấm dứt. Giai đoạn tiếp theo khi di chuyển ra quán cà phê lúc này chỉ có L – N – H1, khi đó bị cáo N đã tiếp nhận ý chí của L, đi mua vở bút và cùng L bắt ép H1 viết giấy xác nhận nợ. Thực tế H1 có cầm khoản tiền 128.000.000 đồng của L, hứa mua gỗ mỡ trong một tháng, sau hơn 3 tháng không mua được, L đòi nhiều lần nhưng H1 vẫn không trả, thực chất L đòi lại quyền về tài sản (là 128.000.000 đồng) hợp pháp của mình, nhưng nhận thức pháp luật của các bị cáo còn hạn chế, nên sử dụng cách thức đòi như đã nêu trên là hành vi trái pháp luật; lẽ ra trong trường hợp này H1 không trả tiền, thì L có quyền khởi kiện H1 ra Tòa án để đòi khoản nợ này. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phản ánh diễn biến hành vi của các bị cáo L và N chỉ thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản.

[2.3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử về tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là phù hợp; về hình phạt trong trường hợp cụ thể này cho thấy: Đây là vụ án không có dự mưu bàn bạc từ trước, vụ án có đồng phạm giản đơn, nguyên nhân xảy ra vụ án xuất phát do lỗi của bị hại đã cầm tiền, nhận mua gỗ mỡ cho bị cáo L, khi không mua được thì cũng không chịu trả lại tiền cho L; xem xét nguyên nhân, động cơ, mục đích, diễn biến hành vi, hậu quả vật chất chưa xảy ra, cùng nhân thân của từng bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt như đã tuyên là phù hợp. Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm đã đạt tình, thấu lý, vừa đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa và vừa có sự khoan hồng của pháp luật, nên tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo L, bị cáo N thừa nhận có hành vi vi phạm trái pháp luật, các bị cáo nhất trí với bản án sơ thẩm và không có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Về ngày tạm giữ, tạm giam đối với các bị cáo: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, ngày 06/6/2019 các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cùng ngày Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với các bị cáo (BL 24, 26, 27, 32). Đến ngày 07/6/2019, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn ra các quyết định tạm giữ số 44, 45 đối với các bị cáo (BL 39, 40). Đến ngày 14/6/2019, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn mới ra quyết định tạm giam số 14, 15 đối với các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N (BL 15, 19). Ngày 10/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn có quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo Lĩnh số 03, 04 (BL 242, 257) đối với các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định các bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2019 đến ngày 14/6/2019 chuyển tạm giam, đến ngày 10/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh.

Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận quyết định kháng nghị số: 10/QĐ-VC1-HS ngày 20/3/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2020/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, cụ thể:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s và v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Bá L cho Ủy ban nhân dân xã LT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thành N 24 (Hai mươi tư) tháng tù, được trừ đi thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2019 đến ngày 10/8/2019. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Bá L và Bùi Thành N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn

Nguyễn Vũ Đông

Hoàng Văn Hạnh

Cỡ chữ