- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 254/2018/HS-ST Ngày: 14-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Xuyên.
Ông Lường Văn Hịa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đình Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 263/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Đức T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1993, tại Điện Biên; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trung T, sinh năm 1959 và con bà Lường Thị Đ, sinh năm 1964; Vợ: Sùng Thị O, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2012; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/9/2018, tạm giam từ ngày 12/9/2018 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngƣời có nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức K, sinh năm 1987; Trú tại: Đội 15, xã T1, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
( Người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ, ngày 09/9/2018, Lê Đức T đi bộ từ nhà ở Thôn T, xã T đến khu vực Đội 18, xã T, huyện Điện Biên để tìm mua heroine sử dụng và bán lại cho người khác kiếm tiền. Khi đến đội 18, xã T, huyện Điện Biên, T mua được 01 gói heroine được gói bên ngoài bằng một lớp nilon màu đen với giá 700.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Kinh tên T1 khoảng 30 tuổi (không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể). Sau khi mua được heroine, T ra ngồi ở ven đường gần đó chờ có ai hỏi mua heroine thì bán. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức K, sinh năm 1987, trú tại Đội 15, xã T1, huyện Điện Biên là người nghiện chất ma túy đến gặp T và hỏi mua 30.000 đồng heroine, T đồng ý và lấy gói heroine ra dùng tay cấu một ít heroine bán cho K. Sau khi mua được heroine, K mang về nhà sử dụng hết. Số tiền 30.000 đồng có được do bán heroine cho K, T sử dụng mua nước ngọt và thuốc lá sử dụng hết. Sau đó, T tiếp tục ngồi ở khu vực Đội 18, xã T, huyện Điện Biên, mục đích có ai đến hỏi mua heroine sẽ tiếp tục bán. Hồi 14 giờ cùng ngày, K tiếp tục quay lại khu vực Đội 18, xã T, huyện Điện Biên gặp T và hỏi mua 60.000 đồng heroine. T đồng ý và tiếp tục lấy gói heroine ra định cấu chia nhỏ để bán cho K, nhưng khi K chưa kịp đưa tiền cho T và T chưa kịp đưa heroine cho K thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lê Đức T 3,57 gam heroine và thu giữ của Nguyễn Đức K 60.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức T đã khai nhận lại T bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của bị cáo hoàn T phù hợp với nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....
Kết luận giám định số 802/GĐ-PC09 ngày 22/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu giám định: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lê Đức T gửi giám dịnh là ma túy: Loại heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Lê Đức T là 3,57 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; . Không hoàn lại đối tượng giám định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức T không khiếu nại về kết luận giám định.
Tại bản Cáo trạng số 207/CT- VKSĐB ngày 18/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng theo quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Đức T từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 3,57 gam Heroine, đã trích mẫu gửi đi giám định 0,14gam mẫu chất bột màu trắng; Không hoàn lại đối tượng giám định, là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Tịch thu nộp ngân sách nhà Nước số tiền 60.000đ (sáu mươi nghìn đồng) tiền thu của K vì K dùng số tiền này vào mục đích phạm tội. Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 30.000 (ba mươi nghìn đồng) do bị cáo bán heroine cho K mà có. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Đức T nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Hành vi của bị cáo được chứng minh như sau: Khoảng 06 giờ, ngày 09/9/2018 Lê Đức T đi bộ từ nhà đến Đội 18, xã T, huyện Điện Biên gặp một người đàn ông dân tộc Kinh tên là T1 khoảng 30 tuổi, mua được 01 gói heroine với giá 700.000 đồng. Khoảng 07 giờ cùng ngày có Nguyễn Đức K, sinh năm 1987, trú tại: Đội 15, xã T1, huyện Điện Biên đến hỏi mua 30.000 đồng heroine. Hồi 14 giờ cùng ngày K lại tiếp tục đến hỏi mua 60.000 đồng heroine, hai bên đã thỏa thuận trao đổi mua bán xong nhưng K chưa kịp trao tiền và nhận heroine thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên bắt quả tang thu giữ của T 3,57 gam heroine và thu giữ của K 60.000 đồng heroine. Với hành vi, động cơ phạm tội, với khối lượng heroine là 3,57 gam mà T bị thu giữ và bị cáo đã 02 lần bán heroine cho Nguyễn Đức K, mặc dù T chưa kịp nhận tiền và đưa heroine cho K thì bị phát hiện bắt giữ là nằm ngoài ý muốn của T và K. Vì vậy, bị cáo T phải chịu tình tiết định khung hình phạt: “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn T đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an T trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Thôn T, xã T, huyện Điện Biên, được gia đình nuôi ăn học đến lớp 11/12 thì nghỉ học ở nhà, bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017 đến nay. Tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc T bộ tài sản, xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, nguồn thu nhập từ làm ruộng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Kinh tên là T1 khoảng 30 tuổi, nhà ở thành phố Điện Biên Phủ. Do bị cáo không biết rõ, họ tên đệm và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.
. Nguyễn Đức K đã mua của bị cáo 30.000 đồng heroine và đã sử dụng hết, lần thứ 02 K đến mua heroine của bị cáo T nhưng chưa kịp nhận heroine và chưa kịp đưa tiền thì bị bắt quả tang. Hành vi của K không cấu thành tội phạm. Ngày 10/10/2018, Công an huyện Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 159 đối với K về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức cảnh cáo. Nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với K.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 3,57 gam Heroine, đã trích mẫu gửi đi giám định 0,14gam mẫu chất bột màu trắng; Không hoàn lại đối tượng giám định, là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Số tiền 60.000đ Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Đức K là tiền K sử dụng để mua ma túy của T nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, Truy thu số tiền 30.000 đồng là tiền do T bán ma túy cho K mà có.
. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Lê Đức T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 09/9/2018.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy 3,57 gam Heroine, đã trích mẫu gửi đi giám định 0,14gam mẫu chất bột màu trắng; Không hoàn lại đối tượng giám định, là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà Nước số tiền 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền K sử dụng để mua ma túy của T.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do bị cáo T phạm tội mà có.
(T bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2018).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/11/2018)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên - VKSND huyện Điện Biên - Bộ phận HSNV CA huyện ĐB - Nhà tạm giữ, tạm giam CA huyện Điện Biên - Trại giam - Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên - Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên - Bị cáo - Tòa án tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - L u hå THA – HS; Lưu Hs; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Văn Xuyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Thị Thanh Thủy Lƣờng Văn Hịa |