- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn Phương - Trần Thị Thúy"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Văn Phương.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG ——————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 253B/2019/HNGĐ-ST Ngày 10-10-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Hồng Thái.
Bà Phạm Kim Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khánh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Phương.
Địa chỉ: khu vực 6, phường IV, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Thúy.
Địa chỉ: khu vực 6, phường IV, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01/8/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn Phương trình bày:
Ông Trần Văn Phương và bà Trần Thị Thúy kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã nhau làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay. Hiện tại ông Phương xác định không còn yêu thương bà Thúy nữa và không muốn duy trì mối quan hệ hôn nhân với bà Thúy. Ông Trần Văn Phương khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: ông Trần Thanh Phương yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Thúy.
Về con chung: ông Phương yêu cầu giao 03 con chung cho bà Thúy trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Văn Phương tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con chung, mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp liên tục định kỳ hàng tháng cho đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ bị đơn bà Trần Thị Thúy trình bày: diễn biến việc kết hôn và con chung ông Phương trình bày là đúng. Mặc dù vợ chồng có cãi vã và đã ly thân, nhưng bà Thúy còn thương chồng, thương con nên bà Thúy không đồng ý ly hôn, bà Thúy yêu cầu được đoàn tụ.
Tại phiên tòa, bà Thúy phát biểu thay đổi ý kiến so với trước đây, cụ thể: bà Thúy chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của ông Phương. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung sau khi ly hôn. Yêu cầu ông Phương có trách nhiệm cấp dưỡng cho mỗi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp liên tục định kỳ hàng tháng cho đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: ông Trần Văn Phương khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị Thúy, và yêu cầu giao con chung cho bà Thúy nuôi. Do đó, đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con nên theo quy định tại các khoản 1, 5 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Về hôn nhân: ông Trần Văn Phương và bà Trần Thị Thúy kết hôn năm 2001, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của ông Phương và bà Thúy được công nhận là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã nhau không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay. Từ đó cho thấy hôn nhân của ông Phương và bà Thúy đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, ông Phương cương quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án giải quyết cho ông Phương được ly hôn với bà Thúy.
Về con chung: quá trình chung sống ông Phương và bà Thúy có một 03 con chung tên Trần Thị Tường Vi (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/9/2002, Trần Tấn Nhựt (giới tính: Nam), sinh ngày 12/3/2006 và Trần Tấn Phát (giới tính: Nam, sinh ngày 16/8/2011. Nguyện vọng của 03 con chung đều muốn được sống chung với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Tại phiên tòa, ông Phương cũng thống nhất giao 03 con chung cho bà Thúy nuôi dưỡng theo yêu cầu của bà Thúy. Xét thấy đây là sự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Tòa án chấp nhận.
Về cấp dưỡng: tại phiên tòa ông Phương và bà Thúy đã tự thỏa thuận được mức cấp dưỡng đối với mỗi con chung là 2.000.000 đồng trên tháng, với phương thức cấp dưỡng liên tục định kỳ hàng tháng cho đến khi lần lượt các con chung đủ 18 tuổi. Xét thấy thỏa thuận nêu trên của các đương sự là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Tòa án công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có tranh chấp, vì vậy Tòa án không xem xét.
Đối với ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Tòa án chấp nhận toàn bộ.
Về án phí: căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc ông Phương phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83, 110, 116 và 117 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Trần Văn Phương. Ông Trần Văn Phương được ly hôn với bà Trần Thị Thúy.
2. Về con chung: sau khi ly hôn, bà Trần Thị Thúy được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Trần Thị Tường Vi (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/9/2002, Trần Tấn Nhựt (giới tính: Nam), sinh ngày 12/3/2006 và Trần Tấn Phát (giới tính: Nam), sinh ngày 16/8/2011. Ông Trần Văn Phương có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: ông Trần Văn Phương có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 03 con chung tên Trần Thị Tường Vi (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/9/2002, Trần Tấn Nhựt (giới tính: Nam), sinh ngày 12/3/2006 và Trần Tấn Phát (giới tính: Nam), sinh ngày 16/8/2011 mỗi con chung, mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Với phương thức cấp dưỡng liên tục định kỳ hàng tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 10/10/2019 cho đến khi lần lượt các con chung đủ 18 tuổi.
4. Về án phí: ông Trần Văn Phương phải chịu 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0020543 ngày 16/8/2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh. Như vậy, ông Trần Văn Phương còn phải nộp thêm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Vị Thanh; - Cơ quan THADS TP. Vị Thanh; - UBND phường IV; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hữu Bằng |