- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 253/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-11-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Hòa
2. Ông Nguyễn Văn Đô
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang là Thư ký viên của Toà án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 10 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Nhã Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh cấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Minh V, sinh năm 1990. (vắng mặt)
Căn cước công dân:xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: phường B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1995. (vắng mặt)
Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: phường P, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Căn cứ vào đơn khởi kiện của ông Bùi Minh Vg, lời khai của hai bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Minh V và bà Nguyễn Thị Xuân H tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng). Ông Bùi Minh V xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải, cuộc sống chung đã chấm dứt khoảng 03 năm nay và xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Xuân H. Bà Nguyễn Thị Xuân H có lời khai thống nhất với lời khai của ông Bùi Minh V và đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông Bùi Minh V yêu cầu khi ly hôn được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên tên Bùi Thị Ái T, sinh ngày 21/11/2017 (giới tính: Nữ) và được bà Nguyễn Thị Xuân H đồng ý; nguyện vọng của cháu Tiên là được ở với mẹ là bà Nguyễn Thị Xuân H.
Về tài sản chung: Các đương sự xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng pháp luật; đương sự chấp hành pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Minh Vương, cụ thể: về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho ông Bùi Minh V ly hôn bà Nguyễn Thị Xuân H; về con chung: Đề nghị Tòa án giao con chung chưa thành niên tên Bùi Thị Ái T, sinh ngày 21/11/2017 (giới tính: Nữ) cho bà Nguyễn Thị Xuân H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo đơn khởi kiện của ông Bùi Minh V và căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân H cư trú tại phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng. Ngoài ra, các đương sự đều có đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Minh V và bà Nguyễn Thị Xuân H là vợ chồng do có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng). Quá trình giải quyết vụ án, ông Bùi Minh Vương và bà Nguyễn Thị Xuân H đều xác định không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung đã chấm dứt từ lâu; ông Bùi Minh V và bà Nguyễn Thị Xuân H đều thống nhất ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn giữa ông Bùi Minh Vương và bà Nguyễn Thị Xuân H không đạt được, mâu thuẫn hôn nhân đã thật sự trầm trọng nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần giải quyết cho ông Bùi Minh V ly hôn với bà Nguyễn Thị Xuân H.
Về con chung: Con chung của các đương sự có nguyện vọng được ở với mẹ là bà Nguyễn Thị Xuân Hu, hiện tại con chung đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng; quá trình giải quyết vụ án mặc dù bà Huyền đồng ý để ông Vương được trực tiếp nuôi con, nhưng xét về toàn diện Hội đồng xét xử thấy: con chung có giới tính là nữ, đang còn nhỏ và trước đến nay đều sinh sống với bà H. Do đó, cần thiết tiếp tục giao cho bà H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo quyền lợi cho con chung; mặc dù giao con chung cho bà Huyền trực tiếp nuôi dưỡng nhưng ông V vẫn phải có trách nhiệm cùng bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo cho con chung được phát triển tốt.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Ông Bùi Minh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Minh V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Minh V được ly hôn bà Nguyễn Thị Xuân H.
2. Về nuôi con chung: Giao 01 con chung chưa thành niên tên Bùi Thị Ái Tiên, sinh ngày 21/11/2017 (giới tính: Nữ) cho bà Nguyễn Thị Xuân H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Ông Bùi Minh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004384 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông Bùi Minh V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 10 – Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - UBND phường Phan Thiết; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Phương |