vanban.org

Bản án 253/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hưng Q phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 253/2023/HS-ST
Ngày 06-7 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Tiến

Ông Nguyễn Duy Tuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Tám - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Hưng Q (tên gọi khác: Không) sinh năm 1993; tại Thanh Hóa; HKTT: Số nhà 08/130 Trường Thi, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa; Chỗ ở: Số nhà 06/6/130 Trường Thi, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thanh H (chết) và bà Hoàng Thị H; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là Nguyễn Thị N; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 18/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

- Ngày 27/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Ngày 22/6/2020 bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/11/2022, tại khu vực gần cầu Cảnh Quan, đường Hàm Nghi, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, phát hiện Lê Đức Thanh có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra Thanh tự giác giao nộp 01 bật lửa ga màu hồng, 01 tờ giấy bạc là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/11/2022 Thanh đến nhà Huỳnh Hưng Q (Q béo) ở 06/06/130 đường Trường Thi, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa mua 02 viên ma túy tổng hợp với giá 200.000 đồng, Thanh đưa cho Q 500.000đ gồm cả tiền trả nợ 300.000 đồng mua ma túy của Q trước đó, mua xong Thanh đem về nhà cất giấu, đến khoảng 20h cùng ngày Thanh cầm cả 02 viên ma túy đi đến khu nhà hoang gần cầu Cảnh Quan đường Hàm Nghi sử dụng. Khi vừa sử dụng xong thì bị phát hiện, Thanh tự giác giao nộp dụng cụ sử dụng ma túy.

Ngày 02/11/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thanh Hóa khám xét khẩn cấp nơi ở của Huỳnh Hưng Q, thu giữ 77 viên nén màu hồng và màu xanh tại gầm bàn góc giường ngủ tầng 2 phòng của vợ chồng Q, 01 điện thoại Iphone màu đỏ đã qua sử dụng và số tiền 6.600.000đ. Q xin đầu thú khai nhận số ma túy này là của Q cất giấu để bán kiếm lời.

Quá trình điều tra Huỳnh Hưng Q khai nhận: Do có mục đích kiếm lời và thông qua bạn nghiện Phùng Văn Công biết được Lê Viết Thắng (Cử, Tuấn), sinh năm 1987, trú tại số nhà 12 thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là người bán ma túy nên khoảng 17h ngày 31/10/2022 Q gọi điện cho Thắng hỏi mua 100 viên ma túy tổng hợp với giá 4.500.000 đồng, Thắng đồng ý hẹn Q đi lên ngã ba thị trấn Nưa rồi gọi điện cho Thắng, lúc sau có một người nam giới đeo khẩu trang điều khiển xe máy không biển kiểm soát đi ra nói em của anh Thắng. Q đưa cho người này 4.500.000 đồng, người này cầm tiền rồi chỉ chỗ để ma túy cho Q. Q cầm gói ma túy đi về mở ra kiểm tra thấy chỉ có 95 viên, Q đã sử dụng hết 16 viên. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/11/2022 Q bán cho Lê Đức Thanh 02 viên với giá 200.000 đồng, Thanh đưa cho Q 500.000 đồng cả tiền trả nợ 300.000 đồng, tiền mua ma túy của Q trước đó. Còn lại 77 viên Qúy cất giấu dưới gầm bàn phòng ngủ tầng 2 của vợ chồng Q, chưa kịp bán thì bị khám xét thu giữ.

Ngày 02/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa khám xét khẩn cấp tại số nhà 10 – 12 thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa của Lê Viết Thắng: thu giữ tại hành lang đối diện phòng ngủ thứ 02 số nhà 12: 01 két sắt màu xanh; thu giữ tại vị trí bàn thờ thần tài góc bên phải cửa chính số nhà 10: 01 hộp giấy hình trụ bên trong có chứa 105 viên nén hình tròn màu hồng và 10 túi nilon màu trắng bên trong có chứa hạt tinh thể màu trắng.

Ngày 07 và 09 tháng 11 năm 2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định kết luận:

- Số ma túy khám xét thu của Huỳnh Hưng Q 77 viên nén màu hồng và màu xanh có tổng khối lượng 7,799 gam là ma túy loại Methamphetamine.

- Số ma túy khám xét thu giữ tại số nhà 10 của Lê Viết Thắng gồm: 105 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 9,844 gam là ma túy loại Methamphetamine; 10 gói nilon bên trong có hạt tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 33,476 gam loại Ketamine.

Thu giữ, xử lý vật chứng:

- 01 phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành chứa số ma túy hoàn lại sau giám định;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ số Imei 352997095070745 thu giữ của Huỳnh Hưng Q.

- 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 tờ giấy bạc cháy xám thu của Lê Đức Thanh. Số vật chứng này được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 6.600.000đ, khám xét thu giữ tại phòng ngủ vợ chồng Q. Quá trình điều tra, số tiền này là của chị Nguyễn Thị Nhung (vợ Q) không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nhung.

Đối với số vật chứng khám xét thu giữ tại số nhà 12 của Lê Viết Thắng gồm: 105 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 9,844 gam Methamphetamine; 10 gói nilon bên trong có hạt tinh thể màu trắng có tổng khối lượng 33,476 gam lại Ketamine. Quá trình điều tra, lấy lời khai của Thắng, lời khai của người có mặt tại nơi khám xét, xác minh số điện thoại, giám định vân tay trên hộp đựng ma túy, nhưng Thắng không thừa nhận. Thời điểm khám xét, Thắng không có mặt ở nhà, nên không đủ căn cứ xử lý đối với Lê Viết Thắng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 18/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa ra Quyết định tách vụ án, chuyển hồ sơ kèm theo số vật chứng này đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc két màu xanh thu giữ tại số nhà 10, tiến hành mở niêm phong nhưng không thu giữ gì. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Viết Thắng.

Cáo trạng số 207/CT-VKSTPTH ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Huỳnh Hưng Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251của Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Hưng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Hưng Q. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Hưng Q từ 8 năm 6 tháng tù đến 9 năm tù.

Đề nghị truy thu số tiền bị cáo đã kiếm lợi từ việc bán ma túy 500.000đ

Về hình phạt bổ sung: đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Huỳnh Hưng Q mức 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao, 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 tờ giấy bạc cháy xám thu của Lê Đức Thanh không còn giá trị sử dụng

Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại đi động Iphone màu đỏ điện thoại bị phồng pin, bong mặt kính cường lực, cong vênh phần thân máy là điện thoại Q sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước

Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14; buộc bị cáo Huỳnh Hưng Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định

Bị cáo Huỳnh Hưng Q không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo được sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Hưng Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người chứng kiến và người làm chứng về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/11/2022 tại số nhà 06/6/130 Trường Thi, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa, Huỳnh Hưng Q đã có hành vi bán cho Lê Đức Thanh 02 viên ma túy tổng hợp với giá 200.000 đồng và cất giấu 7,799 gam Methamphetamine để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị khám xét thu giữ.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Huỳnh Hưng Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Huỳnh Hưng Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe của con người, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo và đã đầu thú, trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã có đóng góp ủng hộ cho Quỹ “vì người nghèo” và đã nhận được thư cảm ơn của UBMTTQ phường Trường Thi, ngoài ra mẹ đẻ bị cáo cáo đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo, nhận thấy bị cáo Huỳnh Hưng Q đã 2 lần bị xử phạt tù về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo bị Công an thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không tránh xa ma túy mà còn thực hiện hành vi mua bán ma túy kiếm lời. Do vậy cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc và phù hợp với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành người công dân lương thiện.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bán ma túy kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Theo lời khai của Lê Đức Thanh và Huỳnh Hưng Q, ngày 01/11/2022 Thanh mua ma túy của Q hết 200.000đ, Thanh đã trả cho Q 500.000đ gồm cả tiền trả nợ 300.000 đồng mua ma túy của Q trước đó. Do vậy cần truy thu số tiền bị cáo đã bán ma túy cho Lê Đức Thanh: 500.000đ

Về vật chứng:

- Chất ma túy là vật cấm tự do lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói.

- Điện thoại đi động Iphone màu đỏ thu được của Huỳnh Hưng Q là điện thoại Q sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước

- 01 Bật lửa ga màu đỏ và 01 tờ giấy bạc cháy xám thu của Lê Đức Thanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

- Số tiền 6.600.000 đồng thu giữ khi khám xét tại phòng ngủ vợ chồng Q, quá trình điều tra xác định không liên quan nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nhung vợ Q là phù hợp.

Về các vấn đề khác:

- Đối với Lê Viết Thắng, người mà Q khai đã gọi để mua ma túy. Quá trình điều tra Thắng không thừa nhận, ngoài lời khai của Q không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người nam giới nhận tiền và chỉ nơi đặt ma túy cho Q, căn cứ lời khai của Q cơ quan điều tra đã triệu tập Lê Gia Tư, sinh năm 1993 trú tại Thôn 6, Lai Thịnh, xã Tân Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, quá trình điều tra nhận dạng Tư không thừa nhận, ngoài lời khai của Q không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Lê Đức Thanh đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố Thanh Hóa đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Thanh

Đối với Phùng Văn Công, người giới thiệu địa chỉ cho Q mua ma túy, quá tình xác minh, Công không có mặt tại địa phương, nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Hưng Q phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hưng Q 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 02/11/2022

Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Huỳnh Hưng Q 5.000.000đ

Truy thu của bị cáo Huỳnh Hưng Q: 500.000đ

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa có hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự kèm chữ ký viết của Lê Minh Tiến, Vũ Văn Duân, Vũ Văn Chinh.

- Tịch thu tiêu hủy 01 Bật lửa ga màu đỏ và 01 tờ giấy bạc cháy xám thu của Lê Đức Thanh

- Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại đi động Iphone màu đỏ, điện thoại bị phồng pin, bong mặt kính cường lực, cong vênh phần thân máy. Máy không bật lên nguồn enen không kiểm tra được số Imei.

Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 181/2023/BBGN – THA ngày 02/6/2023.

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Hưng Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ