vanban.org

Bản án 253/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Yến N được ly hôn ông Tô Hoàng Đăng L. 2 Về con chung: Có 01 người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
thành phố T
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 253/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15/02/2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN thành phố T- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ttham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2200/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1995.

Thường trú: 23 đường số , khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố H (Có mặt)

Bị đơn: Ông Tô Hoàng Đăng L, sinh năm 1995.

Thường trú: Số 6/205A đường B, phường T, thành phố T, Thành phố H (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N trình bày: Bà và ông Tô Hoàng Đăng L tự nguyện kết hôn vào năm 2015 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H , thành phố T Sau khi lập gia đình ông bà sống chung với gia đình nhà ông L được thời gian đầu thì sang sống chung gia đình nhà bà. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, từ đó cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên ông bà đã ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông L.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai và tại các buổi hòa giải ông Tô Hoàng Đăng L trình bày: Ông xác nhận thời gian kết hôn đúng như bà N trình bày. Theo ông cuộc sống chung hạnh phúc bình thường đến tháng 9/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và bất hòa giữa chị em chồng với nhau. Ông bà hiện còn sống chung nhà nhưng đã ly thân. Nay ông xác định tình cảm vẫn còn, ông vẫn còn thương vợ thương con, ông không đồng ý ly hôn và ông mong muốn đoàn tụ gia đình.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016. Sau khi ly hôn ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con theo khả năng.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu ly hôn, nuôi con, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hai bên tự thỏa thuận về tài sản chung; Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Tô Hoàng Đăng L không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm, nếu ly hôn ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi con theo khả năng. Về tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ttham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Yến N và ông Tô Hoàng Đăng L tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 23/9/2015 do Ủy ban nhân dân H, thành phố T cấp, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà N Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại tòa, cả bà N và ông L thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân, bà N cho rằng nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung từ đó cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. ông L mặc dù xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng ông vẫn còn thương vợ, thương con, ông không đồng ý ly hôn và hiện các bên vẫn sống ly thân. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng là có và hiện nay các bên vẫn còn mâu thuẫn, chứng tỏ ông bà không có khả năng giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong thực tế cuộc sống vợ chồng dẫn đến vợ chồng ly thân. Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy ông bà đã ly thân với nhau từ tháng 9/2022 cho đến nay, mâu thuẫn giữa các bên là không thể giải quyết, sự tin tưởng lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không mang lại hạnh phúc, bà N cương quyết không đoàn tụ với ông L vì tình cảm không còn, vì vậy căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Yến N và ông Tô Hoàng Đăng L xác định có 01 người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016. bà N và ông L đều thống nhất giao con chung cho bà Ntrực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy; hiện nay người con chung đang do bà Ntrực tiếp nuôi dưỡng và theo nguyện vọng của ông L đồng ý giao cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Vì vậy căn cứ vào Điều 58, Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016 của bà N là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai bên đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng quy định.

Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015. bà N phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Yến N được ly hôn ông Tô Hoàng Đăng L.

1.2 Về con chung: Có 01 người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016.

Giao người con chung tên Tô Hoàng Trà M, sinh ngày 09/8/2016 cho bà Nguyễn Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng. bà Nkhông yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha me vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, me hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

1.3 Về tài sản chung: Hai bên đương sự tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4 Về nợ chung: Đương sự xác định không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nđã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0028606 ngày 29/9/2022. bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ