- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2019 giữa các đươn…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 253/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31 – 7 - 2019 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHỊ XÃ GÒ CÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đăng Khoa.
2. Bà Võ Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Trinh- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 14/5/1979 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp GC, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh ngày: 13/7/1978 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp GC, xã LH, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn ngày 23/4/2019, Bản tự khai ngày 15/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Thành L chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn số 68/HT, quyển số 01/2008 ngày 24/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Long Hòa, thị xã Gò Công. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải nhau, cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Nhận thấy tình cảm không còn, sống với nhau không hạnh phúc.
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị L xin được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 10/12/2006. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Thành L mặc dù được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không nộp cho Tòa án Bản tự khai cũng như văn bản ghi ý kiến của mình. Đồng thời Tòa án đã tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn Thành L nhưng do anh vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt anh L và không hòa giải vụ án được.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L là có cơ sở vì mặc dù anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, cho thấy anh L không có thiện chí gặp chị L để thỏa thuận, trao đổi nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L. Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thành L, giao cháu Tâm cho chị L nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Chị L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe đương sự trình bày, tranh luận, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Thành L chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Hòa, thị xã Gò Công là phù hợp Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống theo chị L trình bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải nhau, cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn, sống với nhau không hạnh phúc.
Phía anh L đã được triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn mâu thuẫn nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn giữa chị L và anh L đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thành T, sinh ngày 10/12/2006. Khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Về điều kiện nuôi con qua xác minh tại địa phương thì chị L, anh L đều có thu nhập để đảm bảo về điều kiện nuôi con.
Xét về điều kiện chăm sóc, cháu T từ nhỏ đã được chị L chăm sóc. Để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của cháu T, ổn định trong quá trình sinh hoạt và để đảm bảo cho cháu T phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, đạo đức. Hơn nữa cháu T có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, giao chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Thành T, sinh ngày 10/12/2006; Anh Nguyễn Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 43106 ngày 23/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công. Khấu trừ xem như đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Án được tuyên cùng ngày./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TXGC; - CCTHADS TXGC; - UBND xã LH, TXGC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký và đóng dấu Lê Thị Hằng |