vanban.org

Bản án 2526/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tòa án nhân dân TP.HCM;

Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; Viện kiểm sát nhân dân TP. Thủ Đức; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2526/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 20/12/2021
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tiến Dũng

2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 20/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 538/2021/TLST– HNGĐ ngày 05/04/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5715/2021/QĐXXST -HNGĐ ngày 26/11/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Mai T, sinh năm: 1976 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 2/1 đường 4C, khu phố 3, phường Linh Xuân, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: 2/1 đường 4C, khu phố 3, phường Linh Xuân, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trịnh Mai T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 161, quyển số 02 do UBND xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cấp ngày 11/8/2006, có tổ chức đám cưới. Sau kết hôn thì sống tự lập tại địa chỉ: 2/1 đường 4C, khu phố 3, phường Linh Xuân, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, cuộc sống hạnh phúc được 03 năm, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Tiến nhậu, đánh bài nên vợ chồng thường cãi vả nhau. Vợ chồng cố gắng hàn gắn, đoàn tụ nhưng không thành, vợ chồng không còn sự quan tâm, lo lắng nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Có 02 con chung 01/ Trần Đức T (Nam), sinh ngày: 16/3/2007 02/ Trần Nhã T(Nữ), sinh ngày: 17/9/2014 Sau ly hôn bà yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung; nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Đối với bị đơn: Căn cứ vào kết quả xác minh về tình trạng cư trú của Công an phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức thì: Đương sự Trần Văn T hiện thực tế cư trú tại địa chỉ: 2/1 đường 4C, khu phố 3, phường Linh Xuân, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn ông Trần Văn T đã được toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án, cũng không có ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự có mặt chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành các thủ tục hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: 1. Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào kết quả xác minh về tình trạng cư trú của Công an phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức thì bị đơn ông Trần Văn T có đăng ký tạm trú trú và đang thực tế cư trú tại địa chỉ: số 2/1 đường 4C, khu phố 3, phường Linh Xuân, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do bận công việc, bị đơn đã được toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228, Điểm a Khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

2. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn, hội đồng xét xử nhận thấy.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Mai T và ông Trần Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 161, quyển số 02 do UBND xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau cấp ngày 11/8/2006. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông, bà là hôn nhân hợp pháp.

- Căn cứ vào trình bày của nguyên đơn thì bà Thiều và ông Tiến kết hôn tự nguyện, quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được nên bà Thiều yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, bà xác nhận ngoài các chứng cứ giao nộp cho Toà án, không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác. Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn, đoàn tụ gia đình nhưng bà Thiều xác định tình cảm vợ chồng với ông Tiến đã không còn, không còn sự quan tâm lẫn nhau, ai sống sao mặc ai, mâu thuẫn kéo dài, vì không thể đoàn tụ được nên bà kiên quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn; vì lý do bận công việc bà có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn ông Trần Văn T cũng đã được Tòa án tiến hành xác minh địa chỉ cư trú, triệu tập nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, cũng không có bất cứ văn bản ghi nhận ý kiến nào gửi cho Tòa án đối với yêu cầu ly hôn của bà Thiều. Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án tiến hành hoãn phiên tòa theo thủ tục pháp luật quy định và tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, điều này cho thấy ông Tiến cũng không còn sự quan tâm, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà Thiều.

Xét, vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, có tình nghĩa vợ chồng nhưng theo những gì nguyên đơn trình bày cho thấy quan hệ hôn nhân của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng nên mục đích hôn nhân cũng không thể đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

2.2. Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự cũng như giấy khai sinh do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định con tên Trần Đức T(Nam), sinh ngày: 16/3/2007; Trần Nhã T(Nữ), sinh ngày: 17/9/2014 là con chung của bà Trịnh Mai T và ông Trần Văn T, nguyên đơn có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con, bị đơn ông Trần Văn T không có ý kiến gì về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao con chung cho bà Thiều trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.3. Về tài sản chung; nợ chung: Xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điểm a Khoản 1 Điều 238, Điều 264, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Mai T 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trịnh Mai T và ông Trần Văn T 1.2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Trần Đức T(Nam), sinh ngày: 16/3/2007; Trần Nhã T(Nữ), sinh ngày: 17/9/2014 cho bà Trịnh Mai T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. 1.3. Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. 1.4. Về tài sản chung; nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trịnh Mai T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0058904 ngày 29/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Trịnh Mai T đã nộp đủ án phí. 3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ