vanban.org

Bản án 252/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng D được ly hôn ông Nguyễn Tấn L. Giấy chứng nhận kết hôn số 102, do Ủy ban nhân dân xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 23 tháng 08 năm 2017 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/3/2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Khiết.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Bạch.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1277/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng D. Sinh năm 1997. Thường trú: XX, xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L. Sinh năm 1994. Thường trú: XX, thôn Xuân Vinh, xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: XX Tân Kì Tân Quý, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn:

Theo bà Bùi Thị Hồng D thì bà và ông Nguyễn Tấn L tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102, do Ủy ban nhân dân xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 23 tháng 08 năm 2017.

Quá trình chung sống càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Nguyễn Tấn L thường xuyên chơi cá độ gây ra nợ nần, từ đó gây ra nhiều mâu thuẫn. Hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm đôi bên không còn nên bà Bùi Thị Hồng D yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Thái T, sinh ngày 22/01/2018, bà Bùi Thị Hồng D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Tấn L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn:

Ông Nguyễn Tấn L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 27/12/2024 nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tòa án đã thu thập chứng cứ:

Theo văn bản tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28/11/2024, thì Ủy ban nhân dân phường không có thông tin về quan hệ vợ chồng bà Bùi Thị Hồng D, ông Nguyễn Tấn L.

Theo xác minh của Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Tấn L thực tế cư trú tại 910/40 Tân Kì Tân Quý, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa:

Bà Bùi Thị Hồng D có đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và nuôi con, xin vắng mặt tại phiên tòa. Ông Nguyễn Tấn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ quy định pháp luật về tố tụng. Vụ án đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Xét đơn xin ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”; bị đơn là ông Nguyễn Tấn L có nơi cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, bà Bùi Thị Hồng D có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Tấn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Bùi Thị Hồng D và ông Nguyễn Tấn L.

Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D đối với Nguyễn Tấn L, qua lời trình bày của bà Bùi Thị Hồng D thì trong quá trình chung sống, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Hai bên đã sống ly thân. Ông Nguyễn Tấn L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa, không đưa ra được ý kiến của mình về việc hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Bùi Thị Hồng D và ông Nguyễn Tấn L không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Thái T, sinh ngày 22/01/2018, bà Bùi Thị Hồng D yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Tấn L cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng D là có cơ sở, được chấp nhận. Giao con chung Nguyễn Bùi Thái T cho bà Bùi Thị Hồng D nuôi dưỡng, ông Nguyễn Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Hồng D xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không ghi nhận được ý kiến của ông Nguyễn Tấn L, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: bà Bùi Thị Hồng D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là phù hợp quy định của pháp luật, nên thống nhất.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 19, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014,

Tuyên xử:

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng D được ly hôn ông Nguyễn Tấn L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 102, do Ủy ban nhân dân xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 23 tháng 08 năm 2017 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bùi Thái T, sinh ngày 22/01/2018, cho bà Bùi Thị Hồng D nuôi dưỡng, ông Nguyễn Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Hồng D xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không ghi nhận được ý kiến của ông Nguyễn Tấn L, nên không xét.

4. Về án phí: Bà Bùi Thị Hồng D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010984 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị Hồng D đã nộp đủ tiền án phí.

II. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ