- Tranh chấp gì? án hình sự — "DXH phạm tội MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản 2Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 252/2023/HS-ST Ngày 06-7-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tiến
Ông Nguyễn Duy Tuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 275/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 294/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Xuân H (tên gọi khác: Không) sinh năm 1984; tại Thanh Hóa; Địa chỉ: Phố Nghĩa Sơn 2, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Xuân L (chết) và bà và bà Nguyễn Thị T; Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Có vợ là Nguyễn Thị Hồng D (đã ly hôn) và một con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 14/10/2014 bị Công an phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Mua các số lô đề”
- Ngày 04/02/2016 Công an phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Ngày 25/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 28/9/2018)
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an thành phố Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 28/3/2023, Tổ công tác Công an xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại khu vực chân cầu Nguyệt Viên thuộc thôn Nguyệt Viên 1, xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra đối với Đỗ Xuân H. Đỗ Xuân H tự giác giao nộp từ tay trái 13 gói giấy, kích thước mỗi gói khoảng (1x2) cm, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, Đỗ Xuân H khai nhận là ma túy loại heroine của H cất giấu để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong vật chứng để phục vụ công tác điều tra. Ngày 28/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã tiến hành khám xét nơi ở của H nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Về nguồn gốc số ma túy, H khai nhận vào khoảng 08 giờ 30 phút, cùng ngày 28/3/2023, Đỗ Xuân H một mình đi xe ôm đến nhà Hoàng Mạnh H, sinh năm 1979 trú tại số nhà 538 Vinh Sơn, thị trấn Bút Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa mua của Hoàng Mạnh H 01 gói ma túy loại Heroine với số tiền 5.000.000đ. Sau khi mua được ma túy, Đỗ Xuân H chia nhỏ thành 13 gói để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Kết luận giám định ma túy ngày 03/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,720gam loại Heroine.
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Xuân H thành khẩn khai báo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập .
Về vật chứng vụ án:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 1,608g chất bột màu trắng là các mẫu vật còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng, số Imei 35676808371338 bên trong gắn sim số 0979059860 của Đỗ Xuân H.
Cáo trạng số 214/CT-VKSTPTH ngày 05/0/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Đỗ Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, về chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo, bị cáo khai sử dụng để chờ người mua gọi mua ma túy. Lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Xuân H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đỗ Xuân H từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng, số Imei 35676808371338 bên trong gắn sim số 0979059860 của Đỗ Xuân H.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14; buộc bị cáo Đỗ Xuân H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo luật định
Bị cáo Đỗ Xuân H không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo được sớm trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Xuân H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người chứng kiến về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/3/2023, tại khu vực tại khu vực chân cầu Nguyệt Viên thuộc thôn Nguyệt Viên 1, xã Hoằng Quang, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Xuân H đã có hành vi cất giấu 1,720gam loại Heroine, mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Đỗ Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Đỗ Xuân H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, dẫn đến ảnh hưởng sức khỏe của con người, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.
Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo, nhận thấy bị cáo Đỗ Xuân H đã bị xử phạt hành chính 2 lần trong đó có 1 lần bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, dù đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không tránh xa ma túy mà còn thực hiện hành vi mua bán ma túy kiếm lời. Do vậy cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc và phù hợp với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành người công dân lương thiện.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Chất ma túy là vật cấm tự do lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại đi động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, đã qua sử dụng của Đỗ Xuân H do sử dụng vào việc phạm tội
Đối với Hoàng Mạnh H, cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Mạnh H nhưng không phát hiện, thu giữ gì. Triệu tập làm việc với H, H khai nhận có quen biết với Đỗ Xuân H nhưng Hoàng Mạnh H không bán ma túy cho Đỗ Xuân H. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng Hoàng Mạnh H vẫn không thừa nhận bán ma túy cho Đỗ Xuân H. Ngoài lời khai của Đỗ Xuân H không còn tài liệu nào khác chứng minh việc Hoàng Mạnh H bán ma túy cho Đỗ Xuân H không có căn cứ xử lý.
Đối với người nam giới đi xe ôm chở H đi mua ma túy, H không biết tên tuổi địa chỉ, ngoài lời khai của H không có tài liệu khác để xác định người đó là ai.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Điểm a, b khoản 2Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân H phạm tội : “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân H 39 (ba mƣơi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/3/2023
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mở niêm phong đựng trong phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự kèm chữ ký chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Hoàng Tiến Dũng.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại đi động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng số Imei 356768083781338
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 187/2023/BBGN – THA ngày 08/6/2023.
Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Xuân H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa; - CQĐT Công an thành phố Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |