- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 1 - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 252/2023/DS-ST Ngày: 25 – 9 – 2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Nhi
2. Ông Trần Đình Chưởng
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 351/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Minh L, sinh năm: 1987.
(có mặt)
Địa chỉ cư trú: Khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Lý Cẩm B, Sinh năm: 1968.
(vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm H, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Trần Minh L trình bày và xác định yêu cầu như sau: Ngày 12/02/2023 bà Lý Cẩm B có vay của anh số tiền 20.000.000 đồng; ngày 13/02/2023 bà B vay thêm 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 10%/tháng, lãi thanh toán mỗi tháng nhưng không ghi vào biên nhận. Từ khi vay đến nay, bà B chỉ thanh toán cho anh 01 (một) tháng tiền lãi với số tiền 3.000.000 đồng, chưa thanh toán vốn. Nay anh yêu cầu bà B trả cho anh 30.000.000 đồng tiền vốn và yêu cầu thanh toán lãi từ ngày 13/02/2023 đến ngày 25/9/2023 với mức lãi suất 20%/năm. Đối trừ với số tiền lãi anh đã nhận 3.000.000 đồng, anh yêu cầu bà B thanh toán cho anh thêm 700.000 đồng tiền lãi. Tổng số tiền anh L yêu cầu là 30.700.000 đồng.
Đối với bà Lý Cẩm B: Tòa án đã thông báo cho bà Lý Cẩm B về việc thụ lý vụ án, thông báo cho bà B đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập bà B đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhiều lần nhưng bà B vẫn không có mặt tại Tòa án theo Thông báo, triệu tập của Tòa án, cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trần Minh L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Anh Trần Minh L khởi kiện yêu cầu bà Lý Cẩm B thanh toán khoản nợ tiền vay. Do đó, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về hợp đồng dân sự, mà cụ thể là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Bà B cư trú tại thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thụ lý giải quyết. Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà B đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử nhưng bà B vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà B theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh Trần Minh L xác định bà B nợ anh 30.000.000 đồng vốn, lãi suất thoả thuận 10%/tháng, thanh toán lãi mỗi tháng. Quá trình vay bà B chỉ thanh toán 01 tháng tiền lãi thì ngưng cho đến nay. Do bà B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên anh yêu cầu trả anh vốn 30.000.000 đồng và lãi từ ngày 13/02/2023 đến nay sau khi đối trừ 3.000.000 đồng tiền lãi anh đã nhận. Số tiền anh L yêu cầu thanh toán là 30.700.000 đồng. Đối với bà Lý Cẩm B: Bà B đã được Tòa án nhiều lần thông báo, triệu tập bà đến Tòa án để giải quyết tranh chấp với anh L nhưng đến nay bà B vẫn không có mặt tại Tòa án, cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của anh L. Xét thấy hợp đồng vay tài sản giữa các đương sự được thiết lập trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận của anh L và bà B. Bà B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên anh L có quyền khởi kiện yêu cầu bà B thanh toán nợ. Căn cứ vào “Giấy biên nhận vay tiền” đề ngày 12/02/2023 của “Người vay tiền” tên Lý Cẩm B có căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/8/2021, thể hiện nội dung ngày 12/02/2023 bà Lý Cẩm B vay của anh Trần Minh L 20.000.000 đồng; ngày 13/02/2023 bà B vay thêm 10.000.000 đồng. Đến nay bà B không cung cấp cho Tòa án chứng cứ chứng minh cho việc bà B có thanh toán vốn hoặc lãi cho anh L, cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của anh L gửi đến Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do anh L giao nộp, lời thừa nhận của anh L về việc đã nhận tiền lãi, có cơ sở xác định trình bày của anh L về việc bà B nợ anh L 30.000.000 đồng tiền vốn và tiền lãi từ ngày 14/3/2023 đến nay chưa thanh toán là có căn cứ. Thời gian từ ngày 13/02/2023 đến nay (ngày 25/9/2023) là 07 tháng 12 ngày nên tổng tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm được xác định là 3.700.000 đồng. Bà B đã thanh toán được 3.000.000 đồng tiền lãi nên số tiền lãi bà B còn phải thanh toán cho anh L đến nay là 700.000 đồng. Do đó số tiền lãi anh L yêu cầu thanh toán 700.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của anh Trần Minh L được chấp nhận nên bà Lý Cẩm B phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1 - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh L.
Buộc bà Lý Cẩm B thanh toán cho anh Trần Minh L tổng số tiền 30.700.000 đồng (ba mươi triệu bảy trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày anh Trần Minh L có đơn yêu cầu thi hành án, bà Lý Cẩm B không tự nguyện thi hành xong khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2 - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Bà Lý Cẩm B phải chịu 1.535.000 đồng (chưa nộp). Bà Lý Cẩm B phải nộp án phí khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Anh Trần Minh L không phải chịu án phí. Ngày 15/6/2023 anh Trần Minh L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 975.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (theo biên lai số 0003587). Anh L được hoàn lại án phí với số tiền 975.000 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3 - Về quyền kháng cáo: Anh Trần Minh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lý Cẩm B vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp. Cà Mau; - Chi cục THADS Tp. Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ; - Lưu: Văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hân |