vanban.org

Bản án 252/2017/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng E - Trương Minh K"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2017/DSST
Ngày: 27/9/2017
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Anh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thùy Dương. 2. Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở của Tòa án nhân dân Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án thụ lý số: 127/2017/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 261/2017/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2017/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng E; địa chỉ: đường T, phường B, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Đức L, sinh năm 1984; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/5/2017); (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trương Minh K, sinh năm 1967; địa chỉ: đường Q, Phường R, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ngày 22/5/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trịnh Đức L trình bày:

Ngày 19/01/2015, Ngân hàng E ký kết “Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ” số 2209-LAV-201500002 để giải ngân cho ông Trương Minh K vay số tiền 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu đồng), thời hạn vay 48 tháng; trả gốc và lãi hàng tháng là 6.050.000 đồng (sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); lãi suất 8%/năm; mục đích vay là tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 19/02/2017, ông K đã trả được 109.999.992 đồng nợ gốc và 35.398.389 đồng tiền lãi thì ngưng không thanh toán nữa. Ngân hàng E nhiều lần gửi thông báo và liên hệ trực tiếp yêu cầu ông K tiếp tục trả số tiền còn nợ theo hợp đồng nhưng không có kết quả. Do ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông L yêu cầu Tòa án buộc ông K có nghĩa vụ trả ngay cho Ngân hàng E số tiền nợ gốc là 110.000.008 đồng và tiền lãi tính đến hôm nay là 13.231.844 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Minh K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đều đã được thực hiện đúng quy định nên việc xét xử vắng mặt các đương sự vừa nêu là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Ông Trương Minh K vay tiền của Ngân hàng E, hai bên thực hiện giao kết thông qua hợp đồng tín dụng. Ông K đã nhận đủ số tiền vay nhưng không thực hiện việc trả nợ đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả toàn bộ nợ vay còn lại và tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết là có cơ sở để chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định: Phiên toà xét xử vụ án được mở vào lúc 14 giờ 00 ngày 11/9/2017 và 13 giờ 30 phút ngày 27/9/2017, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo về thời gian, địa điểm xét xử nêu trên nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS). [1] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu ông K có nghĩa vụ trả ngay số tiền nợ là 110.000.008 đồng (một trăm mười triệu không trăm lẻ tám đồng) và tiền lãi tính đến ngày 27/9/2017 là 13.231.844 đồng (bao gồm: tiền lãi trong hạn là 12.271.111 đồng, tiền lãi quá hạn là 488.889 đồng và tiền phạt lãi chậm trả là 471.844 đồng).

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn ông Trương Minh K, trong đó nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền nợ 110.000.008 đồng nợ gốc và tiền lãi nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 (BLTTDS) thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Do ông K không phản đối yêu cầu và chứng cứ mà bên nguyên đơn đưa ra nên coi như ông K chấp nhận yêu cầu trên của nguyên đơn.

Căn cứ “Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ” số 2209-LAV-201500002 ngày 19/01/2015 có chữ ký và ghi tên Trương Minh Kh có cơ sở để xác định ông K đã vay của Ngân hàng E số tiền 220.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất là 8%/năm, trả vốn và lãi mỗi tháng là 6.050.000 đồng. Ngân hàng E và ông Trương Minh K ký kết “Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ” số 2209-LAV-201500002 ngày 19/01/2015 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông K chỉ mới thanh toán được cho Ngân hàng E số tiền nợ gốc là 109.999.992 đồng và 35.398.389 đồng tiền lãi thì ngưng không thanh toán nữa là vi phạm về nghĩa vụ thanh toán. Do đó, việc Ngân hàng E khởi kiện yêu cầu ông K trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và hướng dẫn tại Thông tư số 02/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 14/4/2010 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 110.000.008 đồng (một trăm mười triệu không trăm lẻ tám đồng) và tiền lãi tính đến ngày 27/9/2017 là 13.231.844 đồng (mười ba triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm bốn mươi đồng).

Về án phí:

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả là 6.161.593

đồng (sáu triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm chín mươi ba đồng).

Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về nội dung là có cơ sở

pháp luật, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, Điều 228, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 471, Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Khoản 2 Điều 91 của Luật tổ chức Tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng E. 2. Buộc ông Trương Minh K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng E số tiền nợ gốc là 110.000.008 đồng (một trăm mười triệu không trăm lẻ tám đồng) và tiền lãi là 13.231.844 đồng (mười ba triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm bốn mươi bốn đồng). Ông K còn phải tiếp tục trả tiền lãi đối với số nợ gốc còn lại cho Ngân hàng E tính từ ngày 28/9/2017 cho đến khi trả hết số nợ trên theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại “Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ” số 2209-LAV-201500002 ngày 19/01/2015. 3. Về án phí: Ông Trương Minh K chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.161.593 đồng (sáu triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm chín mươi ba đồng). Hoàn lại cho Ngân hàng E số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.900.464 đồng (hai triệu chín triệu trăm bốn trăm sáu mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0004179 ngày 15/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. 5. Ngân hàng E được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trương Minh K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ