- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Xử phạt bị cáo: PHẠM MINH H 10 (Mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 17 (Mười bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 251/2025/HS-ST Ngày : 09/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bảo Lâm
2. Ông Lê Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trần Thanh Bình – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 207/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. PHẠM MINH H; sinh ngày 26/12/1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: X đường A, Phường I, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: X đường A, Phường I, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn H2, sinh năm 1964 và bà: Trần Thị Mỹ H3, sinh năm 1968; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/3/2019, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng (Quyết định số 141/2019/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 07/02/2020; Ngày 16/12/2020, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng (Quyết định số 317/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 23/3/2022; Tạm giữ, tạm giam: 19/9/2024 (Có mặt).
2. TÔ THỊ C; sinh ngày 07/7/2001 tại tỉnh Đắk Nông (nay là: tỉnh Lâm Đồng); Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là: Thôn M, xã Q, tỉnh Lâm Đồng); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Trung D (chết) và bà: Tô Thị P (chết); Chồng: không có; Con: 02 người (lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, bắt tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Tạm giữ, tạm giam: 27/01/2025 (Có mặt).
3. NGUYỄN THÀNH H1; sinh ngày 04/8/1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: X đường L, Phường M1, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là X đường L, Phường M1, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thành Đ1 (chết) và bà: Nguyễn Thị H4, sinh năm 1971; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 15/9/2024 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 35 phút ngày 15/9/2024, tại trước số X đường N, Phường M, quận B (nay là X đường N, phường I, Thành phố Hồ Chí Minh), tổ tuần tra Công an quận Tân Bình kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành H1 đang cất giấu trái phép chất ma túy trong cốp xe máy Honda Vario màu màu xanh đen biển số 59K2-584.22. Thu giữ của H1 01 túi đeo chéo màu đen, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và dụng cụ sử dụng ma túy. Tại bản Kết luận giám định số 10865/KL-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: mẫu m có khối lượng 1,8060 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine. H1 khai mua gói ma túy đá trên của Phạm Minh H tại trước nhà số X đường L1, phường T, quận P1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Phạm Minh H tại Phòng 302 nhà số X đường L1, phường T, quận P1, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả: Thu giữ trên bàn sát tường trái cạnh cửa ra vào có 05 nỏ thủy tinh không chứa gì, 10 gói nylon không chứa gì, 01 bình thủy tinh có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 bật lửa, 02 cân điện tử. H khai tinh thể không màu là ma túy đá. Thu giữ trong túi giấy màu đỏ treo trên tường cạnh cửa ra vào có 01 hộp, bên trong có 39 gói nylon chứa tinh thể không màu; Tại bản Kết luận giám định số 11016/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: mẫu m (thu giữ của H) có khối lượng 19,3721 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Minh H và Nguyễn Thành H1 khai nhận như sau: Nguyễn Thành H1 khai đã mua ma túy đá từ Phạm Minh H tổng cộng 04 lần, mỗi lần mua đều thanh toán bằng tiền mặt và H1 nhận ma túy tại trước số nhà X đường L1, phường T, quận P1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không nhớ rõ thời gian và giá tiền của các lần mua trước, H1 xác định được 02 lần như sau: Lần 1 ngày 11/9/2024 H1 mua ma túy đá của H 600.000 đồng (khoảng 12 số) tương đương 1,2 gam ma túy đá, H1 trả tiền mặt 200.000 đồng và H1 còn nợ H số tiền 400.000 đồng. Lần 2: Vào khoảng 23 giờ ngày 14/9/2024, Nguyễn Thành H1 sử dụng số điện thoại 0938682494 liên lạc số điện thoại 0898821849 của Phạm Minh H đặt mua ma túy đá với giá tiền 700.000 đồng (khoảng 18 số) giao nhận tại trước nhà số X đường L1, phường T, quận P1 và H1 trả bằng tiền mặt 700.000 đồng tiền mua ma túy và 400.000 đồng tiền nợ mua ma túy trước đó vào ngày 11/9/2024. Đến khoảng 21 giờ 35 phút ngày 15/9/2024, tại trước X đường N, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thành H1 đang dừng xe gắn máy Honda Vario màu xanh đen mang biển số 59K2- 58422 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng.
Ngoài ra, Phạm Minh H còn khai nhận: Vào giữa tháng 8/2024, Phạm Minh H mua ma túy đá của đối tượng tên T2 (chưa rõ lai lịch, sử dụng Zalo “T2”) ở khu vực Đ2, quận B2 và giao dịch ma túy bằng hình thức T2 chụp hình vị trí địa điểm để hộp thuốc chứa ma túy đá rồi gửi đến tài khoản Zalo “Hhhhhh” (được đăng ký bằng số điện thoại 0898821849) của H. Sau khi H lấy được ma túy thì T2 thu hồi tin nhắn. Vào trưa ngày 14/9/2024, H liên lạc đặt mua một hộp 10 ma túy đá với số tiền 3.000.000 đồng của Zalo “T2” và sử dụng tài khoản số 97900261219999 ngân hàng TMCP Quân đội (MB) chủ tài khoản Phạm Minh H chuyển 3.000.000 đồng đến tài khoản số 0901678697 Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chủ tài khoản Tô Vũ T2. Sau đó, H thuê xe ôm chở đến địa điểm Zalo “T2” cung cấp ở khu vực Đ2, quận B2 để lấy hộp thuốc chứa ma túy. Khi về đến Phòng 302 nhà số X đường L1, phường T, quận P1, H kiểm tra bên trong hộp thuốc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá và phân ra thành 40 gói nylon chứa 18 số, 12 số, 6 số, 3 số và 2 số ma túy đá (01 số ma túy đá khoảng 0,1 gam) để bán cho khách kiếm lời. H đã mua ma túy đá từ Zalo “T2” tổng cộng 05 – 06 lần, các lần trước thì H không nhớ thời gian, địa điểm và số tiền mua ma túy, tất cả số ma túy thu giữ là của H mua từ T2 vào ngày 14/9/2024 để bán kiếm lời, không có ai phụ giúp H bán ma túy, số tiền hưởng lợi từ việc bán ma túy thì H tiêu xài cá nhân, trong đó có tiền thuê nhà, ăn uống cho Tô Thị C và con của C nhưng H không nói cho C biết H bán ma túy và nguồn gốc số tiền từ đâu mà có; trong đó có 01 gói nylon chứa 18 số ma túy đá thì H đã bán với giá 700.000 đồng cho H1 (sử dụng số điện thoại 0938682494) tại trước nhà số X đường L1, phường T, quận P1, Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 23 giờ 00 ngày 14/9/2024 H1 thanh toán bằng tiền mặt 1.100.000 đồng, trong đó tiền mua ma túy đá là 700.000 đồng và trả số tiền còn nợ là 400.000 đồng do H1 mua ma túy đá 12 số (tương đương 1,2 gam) ngày 11/9/2024.
Đồng thời, Phạm Minh H khai là người cung cấp ma túy đá và công cụ sử dụng ma túy đá là bình thủy tinh có gắn ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thủy tinh để cùng với bạn gái Tô Thị C sử dụng ma túy đá vào các ngày 14/9/2024, 15/9/2024, 16/9/2024 tại phòng 302 lầu 3 nhà số X đường L1, phường T, quận P1 (nay là X đường N, phường I, Thành phố Hồ Chí Minh).
Tô Thị C khai nhận phù hợp với lời khai của Phạm Minh H. Từ ngày 18/7/2024, H và C chung sống với nhau tại Phòng 302 nhà số X đường L1, phường T, quận P1 nhưng không đăng ký kết hôn. H là người cung cấp ma túy đá và công cụ sử dụng ma túy là bình thủy tinh có gắn ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thủy tinh để cùng sử dụng ma túy đá với C vào các ngày 14/9/2024, 15/9/2024, 16/9/2024 tại phòng 302 lầu 3 nhà số X đường L1, phường T, quận P1. Hình thức sử dụng ma túy như sau: H lấy ma túy đá đặt vào trong nỏ thủy tinh gắn vào bình thủy tinh để ở trên bàn sát tường trái cạnh cửa ra vào phòng 302 và dùng bật lửa đốt lên có khói rồi H đưa C sử dụng trước, sau đó đến lượt H sử dụng; lần lượt C và H sử dụng cho đến hết số ma túy trong nỏ, mỗi người hút được khoảng 03 hơi. Tô Thị C là người ký giao kết với bà Bùi Thị Loan về hợp đồng thuê nhà ngày 18/7/2024 để thuê phòng 302 lầu 3 nhà số X đường L1, phường T, quận P1, C là người quản lý sử dụng và trả tiền thuê địa điểm trên.
Kết quả xét nghiệm ma túy, Phạm Minh H, Tô Thị C, Nguyễn Thành H1 có kết quả dương tính với ma túy đá (MET).
Kết quả xác minh chủ tài khoản số 00006057524 mở tại Ngân hàng TPBank và số điện thoại 0901678697 tên Tô Vũ T2, sinh 13/01/1992, có đăng ký thường trú tại X, xã V, huyện C1, nhưng không thực tế cư trú nên chưa làm việc được. Phạm Minh H khai liên lạc mua ma túy qua mạng xã hội không gặp mặt người bán ma túy nên không nhận dạng được Tô Vũ T2.
Vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 3390/24 và chữ ký giám định viên Trần Đình Hải bên trong có 39 gói nylon chứa tinh thể đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 19,3721 gam loại Methamphetamine mẫu vật còn lại sau giám định.
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 3366/24 và chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh Trí bên trong có 01 gói nylon chưa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8060 gam loại Methamphetamine, mẫu vật còn lại sau giám định.
- Thu giữ của Nguyễn Thành H1: 01 bình nhựa có gắn ống hút; 01 nỏ thuỷ tinh; 01 bật lửa; 01 túi đeo chéo màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh; 01 điện thoại di động Xiaomi Model M2007J33Y; 01 xe máy Honda Vario màu xanh đen biển số 59K2-584.22 do Nguyễn Thành H1 đăng ký sở hữu.
- Thu giữ Phạm Minh H: 05 nỏ thủy tinh không chứa gì; 10 gói nylon không chứa gì; 01 bình thủy tinh có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thủy tinh không chứa gì; 01 bật lửa; 02 cân điện tử; 01 điện thoại di động SamSung Note 10 màu đen
Đối với các đối tượng là người mua ma túy, Phạm Minh H khai không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không có cơ sở xử lý.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Phạm Minh H là Zalo tên “T2” chưa rõ lai lịch và sử dụng số thuê bao 0901678697 và tài khoản số 00006057524 Ngân hàng TPBank tên Tô Vũ T2, kết quả xác minh hiện Tô Vũ T2 không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã thông báo truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS-KV4 ngày 28 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Tô Thị C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Thành H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Minh H từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Tô Thị C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận thu lợi bất chính từ việc bán ma túy số tiền 6.000.000 đồng cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng vụ án, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có tranh luận, không bào chữa, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình (bị cáo H bị tai nạn giao thông năm 2022 để lại dị tật bàn tay phải không còn ngón tay, bị cáo C có 02 con còn nhỏ (sinh năm 2022 và 2024), bị cáo H1 có mẹ bị tàn tật ở chân, bị tai biến, sức khỏe yếu) để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội để phụ giúp chăm lo cho người thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Phạm Minh H, Lê Thị C, Nguyễn Thành H1, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Phạm Minh H và Tô Thị C cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần, cụ thể các ngày 14/9/2024, 15/9/2024, 16/9/2024, trong đó bị cáo H có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy và Tô Thị C có hành vi sử dụng nơi ở làm địa điểm sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “phạm tội 2 lần trở lên” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Phạm Minh H có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng 19,3721 gam loại Methamphetamine với mục đích để bán và 02 lần bán ma tuý ngày 14/9/2024 với khối lượng 1,8060 gam loại Methamphetamine, ngày 11/9/2024 với khối lượng 1,2 gam loại Methamphetamine cho Nguyễn Thành H1. Do đó, bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma túy là 19,3721 gam + 1,8060 gam + 1,2 gam = 22,3781 gam ma túy thể rắn, loại Methamphetamine, đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “phạm tội 2 lần trở lên” và “…Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thành H1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng 1,8060 gam là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc mua bán, sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì tư lợi và thoả mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Nhân thân bị cáo Phạm Minh H đã hai lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện. Bị cáo Tô Thị C trong thời gian tại ngoại chờ xử lý (do nuôi con nhỏ) lại tiếp tục phạm tội ngày 26/01/2025, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, bắt tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho các bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nhân thân bị cáo H1 chưa tiền án tiền sự, đã tham gia nghĩa vụ quân sự được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tang vật vụ án:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 3390/24 và chữ ký giám định viên Trần Đình Hải bên trong có 39 gói nylon chứa tinh thể đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 19,3721 gam loại Methamphetamine; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 3366/24 và chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh Trí bên trong có 01 gói nylon chưa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8060 gam loại Methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành H1 và hình dấu Công an Phường 10 quận Tân Bình, bên trong có: 01 bình nhựa không chứa gì có gắn ống hút và 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 hột quẹt; 01 gói niêm phong bên ngoài có hình dấu vân tay của Phạm Minh H và hình dấu Công an phường 10, quận Tân Bình, bên trong có: 01 bình thủy tinh không chứa gì có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 bật lửa, 02 cân điện, 05 nỏ thủy tinh không chứa gì; 10 bịch nylon không chứa gì là vật dụng các bị cáo sử dụng ma túy, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh có số IMEI: 356717117511534 đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của Nguyễn Thành H1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe mô tô Honda Vario màu xanh đen mang biển số 59K2-584.22, số máy: KF41E1969165, số khung: MHIKF4111LK966771; 01 điện thoại Xiaomi Model M2007J33Y có số IMEI: 866228055504112/00, đã qua sử dụng mặt sau bị nức bể; 01 điện thoại di động SamSung Note 10 màu đen số IMEI: 357636100111350/57 đã qua sử dụng, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Minh H khai nhận thu lợi bất chính từ việc bán ma túy số tiền 6.000.000 đồng cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Minh H;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Tô Thị C;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành H1;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
[1] Xử phạt bị cáo: PHẠM MINH H 10 (Mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 17 (Mười bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
Xử phạt bị cáo: TÔ THỊ C 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2025.
Xử phạt bị cáo: NGUYỄN THÀNH H1 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024.
[2]Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Minh H nộp lại số tiền 6.000.000 (Sáu triệu) đồng để sung ngân sách nhà nước.
[3] Xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 3390/24 và chữ ký giám định viên Trần Đình Hải bên trong có 39 gói nylon chứa tinh thể đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 19,3721 gam loại Methamphetamine; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 3366/24 và chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh Trí bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8060 gam loại Methamphetamine; 01 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành H1 và hình dấu Công an Phường 10 quận Tân Bình, bên trong có: 01 bình nhựa không chứa gì có gắn ống hút và 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 túi đeo chéo màu đen, 01 hột quẹt; 01 gói niêm phong bên ngoài có hình dấu vân tay của Phạm Minh H và hình dấu Công an phường 10, quận Tân Bình, bên trong có: 01 bình thủy tinh không chứa gì có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thủy tinh không chứa gì, 01 bật lửa, 02 cân điện, 05 nỏ thủy tinh không chứa gì; 10 bịch nylon không chứa gì.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động SamSung Note 10 màu đen số IMEI: 357636100111350/57 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Xiaomi Model M2007J33Y có số IMEI: 866228055504112/00; 01 xe mô tô Honda Vario màu xanh đen mang biển số 59K2-584.22, số máy: KF41E1969165, số khung: MHIKF4111LK966771.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành H1 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu xanh có số IMEI: 356717117511534 đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 154/BB/2025 ngày 12/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh).
[4] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - CQCSĐT Công an Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 4 – Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 4 – Tp. Hồ Chí Minh; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân trại tạm giam khu vực Phú Thọ Hòa; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Ngọc Tâm |